Lục Sơn Thanh Khê
Cô bạn và tôi rủ nhau chuồn đi xem The Odyssey. Bước vào rạp, tôi cứ nghĩ rồi hai đứa sẽ ngồi bàn về kỹ xảo, về hàng trăm triệu USD Hollywood đã đổ vào bộ film, hay lại lắc đầu trước một vài lựa chọn diễn viên mang đậm dấu ấn DEI của thời kỳ woke, thứ đang khiến Hollywood dần đánh mất mình qua kg ít tác phẩm dở hơi. Thế nhưng lúc bước ra khỏi rạp, điều duy nhất còn đọng lại giữa chúng tôi chỉ là một con tàu lênh đênh giữa biển.

Có lẽ mỗi dân tộc đều có một con tàu của riêng mình trong ký ức. Người Hy Lạp kể câu chuyện về một người đàn ông vượt biển để tìm đường trở về quê hương. Người Việt của tôi lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Họ vượt biển vì quê hương đã kg còn là nơi họ có thể trở về.

Trên những con thuyền ấy kg có những vị anh hùng trong thần thoại, cũng chẳng có ai biết mình sẽ cập bến hay chìm xuống đáy biển. Chỉ có những người cha cố giấu nỗi sợ để trấn an gia đình, những người mẹ ôm con thật chặt trong đêm tối, những cụ già biết rằng có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ còn nhìn thấy quê hương lần nữa. Họ biết phía trước là biển cả, là bão tố, là hải tặc, là đói khát, là cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Thế nhưng họ vẫn bước lên thuyền, mang theo một niềm hy vọng mong manh rằng phía bên kia đại dương sẽ có một nơi cho họ được sống như một con người.

Buổi tối, trên đường về khách sạn, hai đứa nhỏ hỏi tôi bộ film có hay kg. Thế là từ một con tàu của Odysseus, tôi kể cho các con nghe về những chuyến vượt biển của người Việt sau năm 1975, về những con người đã đánh cược cả mạng sống chỉ để tìm một nơi con mình có thể lớn lên trong tự do. 

Đứa con gái lớn ngồi lặng đi. Có lẽ con hiểu hơn ai hết cảm giác phải rời bỏ quê hương của mình. Con cũng từng phải rời bỏ quê hương dưới những cuộc bách hại và thảm sát kinh hoàng ở một vùng đất xa xôi thuộc Tây Phi. Rồi nước Mỹ dang rộng vòng tay cưu mang con. Và một gia đình cũng dang rộng vòng tay để ôm con vào lòng. Con cũng có thêm một quê hương để gọi là nhà.

Tôi quay sang nhìn đứa nhỏ bên cạnh. Con chưa từng biết đến chiến tranh, chưa từng biết đến những chuyến vượt biển, nhưng trong con vẫn chảy câu chuyện của những người Việt lưu vong năm ấy. Con là hậu duệ của một thế hệ đã đánh đổi tất cả chỉ vì hai chữ Tự Do.

Hai đứa trẻ, hai nơi chôn nhau cắt rốn, hai hành trình khác biệt, nhưng hôm nay cùng ngồi trên một chuyến xe. Một đứa mang theo ký ức của quê hương mình đã rời xa. Một đứa lớn lên cùng ký ức của người đi trước. Tôi mong các con sẽ luôn nhớ rằng tự do chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có. Có người đã bỏ lại quê hương. Có người đã bỏ mạng giữa biển khơi. Và cũng có những người mang theo nỗi nhớ quê hương suốt cả cuộc đời để con cháu mình hôm nay được sống trong bình yên.

Sự im lặng trong xe bị phá vỡ bởi giọng bé con, "mummy, tell us more stories..." 

Chiếc xe vẫn lặng lẽ lăn bánh trong đêm. Ngoài cửa kính là những dải đèn trải dài trên xa lộ nước Mỹ. Trong xe, tiếng nhạc chậm rãi cất lên.  

Có những con tàu chỉ chở người.

Nhưng cũng có những con tàu chở theo số phận của cả một dân tộc.

L, ngày nắng hạ, 2026

[Image: IMG-0442.jpg]
Kiếp luân hồi có sinh có diệt
Đời vô thường giả tạm hư không
Ngũ uẩn: “Sắc bất dị không”
An nhiên tự tại cho lòng thảnh thơi.
-CT-

願得一心人,
白頭不相離.
Reply
Xưa giờ xem film Hong Kong nhiều, kg chỉ kiếm hiệp mà cả những bộ film mang màu sắc sử ký như Thuyết Đường, Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng… Nói kg oan, xem nhiều đến mức có lúc còn rành nhân vật trong sử Trung Hoa hơn cả sử Việt.

Lớn lên chỉ cách Hollywood mấy chục phút lái xe, ngay giữa cái nôi sản sinh ra những bom tấn trị giá hàng trăm triệu USD của thế giới. Thế nhưng lạ một điều, càng xem nhiều, tôi lại càng bị cuốn hút bởi những câu chuyện mang hồn sử nước Nam. Có lẽ dù tuổi thơ gắn với hamburger, pizza và Hollywood, thì trong huyết quản vẫn chảy dòng nước mắm nhĩ Việt Nam màu hổ phách. 😅

Nhớ bộ kinh điển Thuyết Đường (1987) có Lương Triều Vỹ, Trần Ngọc Liên và Lưu Thanh Vân trong vai Lý Thế Dân. Dù kỹ xảo thời đó cực kỳ sơ sài, bối cảnh đôi khi lộ rõ là dựng trong studio, nhưng khí chất, diễn xuất và cái hồn của câu chuyện đã biến nó thành một tượng đài. Đến tận hôm nay, sau bao nhiêu lần remake với kỹ xảo hiện đại và kinh phí lớn hơn, vẫn chưa có phiên bản nào vượt qua được cái bóng của bộ film năm ấy. Thế mới thấy sức sống của một bộ film sử thi kg nằm ở kỹ xảo hay số tiền đầu tư, mà nằm ở cách người ta thổi hồn vào lịch sử.

Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Lã Bố, Hàn Tín, Lưu Bang, Hạng Vũ, Tần Thủy Hoàng, Lã Hậu, Võ Tắc Thiên… những cái tên ấy gần như ai mê film cổ trang cũng thuộc nằm lòng. Trong khi đó, lịch sử Việt Nam đâu hề thiếu những nhân vật kiệt xuất. Gia Cát Lượng có thể khiến người đời khâm phục bởi tài thao lược thì Việt Nam cũng có Nguyễn Trãi. Nhà Đường có Lý Thế Dân hùng tài vĩ lược thì Đại Việt có Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất sơn hà. Chúng ta có Trần Hưng Đạo ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, có Quang Trung với cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh, có Trưng Vương, Bà Triệu, Ỷ Lan, Dương Vân Nga… toàn những nhân vật mà nếu được kể đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành những biểu tượng trên màn ảnh.

Tôi luôn có một ước muốn rất đơn giản. Bao giờ người Việt mới dựng được một bộ film lịch sử mà mỗi lần xem, khán giả lại háo hức chờ cảnh Trần Hưng Đạo chỉ huy ba lần đánh tan quân Nguyên, hay Nguyễn Trãi bày mưu giúp Lê Lợi giành lại non sông, thay vì chỉ thuộc nằm lòng những trận chiến của Tam Quốc hay Hán Sở?

Lịch sử Việt Nam đâu có thiếu những câu chuyện hào hùng. Nhà Tống nhiều lần nam chinh mà vẫn kg khuất phục được Đại Việt, rồi cuối cùng chính họ lại chịu nỗi nhục Tĩnh Khang, mất cả giang sơn dưới vó ngựa Kim và sau đó bị quân Nguyên xóa sổ. Một quốc gia nhỏ bé như Đại Việt lại ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, đội quân của một trong những đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.

Tôi vẫn nhớ hồi Thiên Mệnh Anh Hùng ra mắt. Vì là một trong số ít film lịch sử Việt được đầu tư bài bản nên tôi cũng tìm xem. Bộ film lấy cảm hứng từ câu chuyện hậu Lệ Chi Viên, có bối cảnh đẹp, phục trang công phu và lúc đó đã khiến tôi nghĩ, “Ước gì điện ảnh Việt sẽ có thêm nhiều film lịch sử như thế này.” Nhưng thú thật, quy mô khi ấy vẫn chưa thật sự tạo được cảm giác của một bộ sử thi lớn như những gì tôi từng xem từ điện ảnh Hong Kong hay Trung Quốc.

Đến hôm nay, xem trailer Hộ Linh Tráng Sĩ, tôi lại có cảm giác giống ngày đó. Kg phải vì nghĩ đây chắc chắn sẽ là một kiệt tác, mà vì sau rất nhiều năm, tôi lại thấy có một ekip dám quay về với lịch sử Việt bằng một dự án có quy mô và tham vọng lớn. Làm film lịch sử ở Việt Nam chưa bao giờ là dễ. Chỉ riêng phục trang, đạo cụ, bối cảnh, chiến mã, hàng trăm diễn viên quần chúng và những đại cảnh chiến trận đã là một áp lực khổng lồ.
Trailer đẹp chưa chắc film sẽ hay. Điều đó phải chờ khi film ra mắt mới có câu trả lời. Nhưng nếu cứ đợi đến khi có một kiệt tác hoàn mỹ về mọi mặt rồi mới ủng hộ, thì điện ảnh lịch sử Việt sẽ mãi khó có cơ hội lớn lên.

Vì nếu người Trung Quốc có Tam Quốc, Hán Sở, Thuyết Đường để bao thế hệ yêu mến những anh hùng của họ, thì tôi cũng hy vọng một ngày, con cháu chúng ta sẽ biết đến Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Nguyễn Trãi hay Trưng Vương với niềm say mê như thế.

Lịch sử nước nhà chưa bao giờ thiếu những anh hùng để kể. Điều chúng ta còn thiếu là những bộ film đủ tầm để những trang sử ấy trở thành ký ức của nhiều thế hệ. Và biết đâu, Hộ Linh Tráng Sĩ sẽ là một trong những viên gạch đầu tiên lót đường cho giấc mơ đó. Tôi thật lòng hy vọng vậy.

Lanney, summer 2026
#HoLinhTrangSi



Kiếp luân hồi có sinh có diệt
Đời vô thường giả tạm hư không
Ngũ uẩn: “Sắc bất dị không”
An nhiên tự tại cho lòng thảnh thơi.
-CT-

願得一心人,
白頭不相離.
Reply