VietBest

Full Version: TRUYỆN TÙ & Linh Mục Nhạc Sĩ Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh
You're currently viewing a stripped down version of our content. View the full version with proper formatting.
TRUYỆN TÙ CHÍNH TRỊ

CỔNG TRỜI CẮN TỶ

[Image: 525345205_122154611042675463_62221843101...e=68902BC8]

Tôi sở dĩ sống đến hôm nay là vì tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo. Nếu tôi mà đeo Thánh giá ở ngực và biết câu Kinh thì tôi phải chết đã lâu rồi, từ những năm 60 của thế kỷ này, khi còn đi tù đầy ở Cổng Trời kia.

 Ngày ấy tuy qua mà như còn đấy...

 (Chí Thiện)

 Chúng tôi được tập trung ở Hỏa Lò Hà Nội từ khắp mọi miền đất Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra: Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Mỏ Chén, Bất Bạt, Sơn La, Yên Bái, Lao Kay.

 Tay xích còng số 8, hai người một.

 Hàng đầu: Cha Vinh (địa phận Hà Nội) người bị kết án có 18 tháng tù thôi thế mà hóa ra án tử hình. Cha Quế, địa phận Xã Đoài, Nghệ An. Thứ đến là Nguyễn Hữu Đang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm. Tu sĩ Đỗ Bá Lung, tu sĩ xứ Ngọc Đồng Hưng Yên (nay là Hải Hưng), khét tiếng chống Cộng Sản (1). Tiếp sau đó là một lũ tù dây, đầu trần trán khỉ, hôi hám rách rưới, chống bướng, cứng đầu cứng cổ không chịu sự cải tạo của Đảng và Chính phủ, bọn "dám bẻ que chống trời..."

 Chúng tôi lên xe đi. Súng ống bao quanh. Đi đâu?

 Không ai ai biết cả. Cả những người cầm súng, cũng không biết. Có lẽ chỉ có một người biết. Người đó xách cặp đen đựng danh sách tù nhân, mặt mũi tử tế, ăn mặc dân sự chỉnh tề, đi trên chiếc commăng ca dẫn đường.

 Chỉ biết là chúng tôi đi lên hướng Bắc. Ngày đó đường xá đầy ổ gà ổ voi, xe đi chậm. Mãi trưa chúng tôi mới tới Vĩnh Yên. Nghỉ lại ăn cơm trưa.

 Tôi ngồi gần Nguyễn Hữu Đang, thấy người xách cặp đen đi qua để "kiểm tù" nói năng lễ độ tử tế, nhẹ nhàng.

 "Anh Đang, anh có khỏe không?"

 "Vâng, tôi khỏe"

 Hai người nhìn nhau thông cảm

 "Anh có yêu cầu điều gì không?"

 "Không. Cám ơn."

 Người đó lặng lẽ đi tiếp.

 Chúng tôi lại tiếp tục đi lên phía Bắc. Đến Đoan Hùng. Lúc đó chưa có cầu. Chúng tôi phải xuống xe chờ phà. Để tránh sự chú ý: họ lùa chúng tôi vào sâu trong ngõ cạnh đường, ở đó có một trường học. Có lẽ cấp hai. Các em học sinh và các thầy cô giáo tò mò ra xem lũ tù đày. Họ chỉ trỏ xì xào, hỏi han.

 Nguyễn Hữu Đang hỏi:

 "Các cháu có biết nhân vật lịch sử Cao Bá Quát không?"

 Qua phà chúng tôi đến Tuyên Quang ngủ lại trại giam Tuyên Quang. Lệnh: Không được cởi xích tay. Qua một đêm không thể nào mà ngủ được. Thằng muốn đi ỉa đi đái, phải đánh thức thằng tù đang ngủ dậy.

 5 giờ dậy đi tiếp.

 Kiểm số tù lần cuối vẫn là ông xách cái cặp đen tử tế. Ông ta tỏ vẻ rất biệt đãi đối với anh Đang, làm tôi nghĩ đến chuyện "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời."

 Đến Hà Giang, sau khi ăn cơm trưa, chúng tôi đi tiếp vào một con đường mới mở, hẹp và cheo leo. Mọi người nhìn nhau:

 "Đi mô?"

 Mấy ông Nghệ Tĩnh hỏi nhau.

 "Có lẽ sang Tầu."

 Anh Đang bảo: "Lên Cổng Trời Cắn Tỷ."

 Xe đi chậm vì đường quá xấu. Thế rồi cũng qua được hết, qua đèo Quyết Tiến như là đi máy bay, qua rừng, qua suối, qua mây, và rồi màn đêm buông xuống, chúng tôi đi trong đêm. Tôi vốn là một sĩ quan rất giỏi về Topo, cố định hướng xem mình đi về đâu, hướng nào và đã đi bao xa, nhưng lúc đó cũng chịu. Độ 2 giờ sáng đến một địa điểm đèn đuốc sáng choang.

 Lệnh xuống xe.

 Chúng tôi bị lùa vào một khu rừng, và vào một cái nhà có tường dầy 0.80 mét bằng đất nện, cửa lim, trong nền nhà mọc đầy cây nghệ, lá xách om mượt mà. Cửa khóa lại. Không có đèn đóm gì. Tay hai người vẫn bị xích lại với nhau. Mỗi nhà nhận độ 20 người. Sờ soạng sắp xếp và ngủ tiếp.

 Sáng hôm sau, cửa mở, đem toàn bộ đồ dùng ra sân. Khám xét. Lục lọi. Tất cả cái gì bằng kim loại, thánh giá, tràng hạt, kể cả cái thìa nhôm cũng bị tịch thu lấy đi.

 Xong, đọc tên phân loại.

 Khu O. Khu H. Khu A. Khu B. Khu C. Khi đi và lúc đọc tên tôi nhẩm: có 72 người. Phần lớn là già, đứng tuổi và 99 phần trăm là Thiên Chúa Giáo.

 Cha Vinh, cha Quế được gọi đi trước, đi về khu O. Nguyễn Hữu Đang vào khu C. Tôi và tu sĩ Đỗ Bá Lung vào khu A. Khu A có hai nhà. Nhà tôi ở có: - Đinh Hiền Lương, tu sĩ dòng tu ép xác Châu Sơn, Ninh Bình, Đức cha Lê Hữu Từ trước khi làm Giám mục Phát Diệm đã tu ở đó. - Nguyễn Trung Chính, tức Nhẩm, tu sĩ xứ Trung Đồng, Thái Bình. Nguyễn Văn Khánh Sơn, giáo dân đeo kính cận người Nghệ Tĩnh. - Cố Hoàng: giáo dân Đức Thọ, Hà Tĩnh, có hai người sinh đôi là Song, Toàn để phân biệt với - Tu sĩ Hoàng cũng Nghệ An. - Lưu Nam phụ trách thanh niên Công Giáo địa phận Xã Đoài. - Tu sĩ Bình, địa phận Thái Bình. - Tu sĩ Đỗ Bá Lung xứ Ngọc Đồng, Hưng Yên. - Trần Văn Liệu, giáo dân làm nghề đồ tể ở Cầu Giát, Quỳnh Lưu. V.v...

 Nhà rất rộng, có 2 sạp nằm đối đầu nhau. Chúng tôi là tù chính trị nên đều hết sức tử tế nhường nhịn nhau, ai nằm đâu thì nằm không hề tranh dành cãi cọ.

 Xếp đồ đạc xong, đã đến giờ làm việc thiêng liêng, ai nấy đều cầu kinh và làm dấu thánh.

 Riêng tôi, có mỗi một mình tôi, không biết cầu, không thuộc kinh bổn gì ráo trọi nên tôi bèn nghĩ tới cái trò Yoga mà tôi đã đọc ở đâu đó. Những năm của thập kỷ 60 người ta ít biết và ít nói về cái trò đó. Tôi ngồi thở và sau đó Trần Văn Liệu hỏi tôi "Được mấy cân hơi rồi."

 Ngày đầu tiên ở Cổng Trời Cắn Tỷ chấm hết ở đó.

 Sang ngày thứ hai, mọi người dậy sớm. Cứ ngồi mà nhìn nhau. Không có nước để đánh răng rửa mặt. Tám giờ, chín giờ rồi mười giờ. Vẫn im ắng như không. Các đấng bậc tu sĩ lại cầu kinh. Tôi lại luyện yoga.

 Hai cái thùng đựng phân và nước tiểu bằng gỗ đều đầy cả. Nước đái tràn cả ra ngoài.

 Mãi đến 11 giờ, có tiếng gọi: "Lấy cơm."

 Có hai tên tù hình sự ở trại ngoài khênh cơm đến để ở cửa rồi chạy biến. Cấm được nhìn, được hỏi, được tiếp xúc trao đổi cái gì. Bọn kiên giam, biệt giam là cực kỳ nguy hiểm, chúng giết người không gớm tay, bọn ăn gan uống máu đồng bào.

 Nhưng thật sự, nhìn kỹ thì: - Đinh Hiền Lương dòng tu ép xác Châu Sơn xanh lướt như một cái bóng. Các tu sĩ đều vậy cả. - Cố Hoàng thì chỉ có hát là cao giọng thôi, chứ đi đứng thì lẩy bẩy. - Khánh Sơn thì mù dở. Nếu ăn gan uống máu đồng bào được thì may ra có tôi và Trần Văn Liệu. Nhưng sau những năm tháng tù đầy ở dưới đồng bằng, bị đói, bị khát bị quần cho đến tơi người bản thân tôi, nắm tay không chặt thì còn làm gì được nữa. Đã rất nhiều lần tôi thử sức, nắm thật chặt để nắm tay mình trở thành quả đấm, nhưng không bao giờ thành, bàn tay tôi không bao giờ có thể nắm chặt lại để thành nắm đấm cả. Thực trạng là như vậy đấy. Nhưng chắc là có lệnh nghiêm mật, giám thị, quản giáo và lính coi tù họ đối xử với chúng tôi cực kỳ tàn bạo và hà khắc.

 Điều cuối cùng họ phải thi hành nghiêm chỉnh là làm cách nào giết hết được chúng tôi. Và họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó: 72 người còn lại độ chừng 11 người. Tôi dám nói con số đó chính xác đến 99%.

 Năm đó là năm 1961. Chúng giết anh em ta ở khu O, khu H, và khu A. Những lò thiêu xác (khổng lồ hay nhỏ nhoi?) không có khói và không cần chất đốt.

 Chúng giết anh em ta

 Bằng chiều cao của núi

 Bằng chiều sâu của đất

 Bằng thông cáo của nha khí tượng.

 Cứ âm O độ là gọi đi xà lim. Xà lim là một cái quan tài bằng đất dầy một mét, cùm răng cá sấu cắn chân không bao giờ được mở, và bỏ đói cho đến chết. Tiếng gọi của thần chết đột ngột, bất thần, không lý do và khỏi cần giải thích. Lưu Nam, chuẩn bị đi. Khánh Sơn chuẩn bị đi. Đinh Hiền Lương, chuẩn bị đi. Cứ thế lần lượt ra đi và không ai trở lại.

 Những năm tháng ấy, tôi ngửi thấy cái chết gần gũi quá. Lần đầu tiên trong đời, qua những năm chinh chiến, qua những cuộc hành quân chiến dịch, tôi đi trong cảnh máu chảy đầu rơi, chân tay vung vãi, khói lửa mù trời, tiếng đại bác bắn dồn dập, mặt đất rung chuyển, máy bay rít sát trên đầu, tiếng xích sắt của xe tăng nghiến sàn sạt sát sườn, cả khi người vệ sĩ của tôi chạy cạnh tôi trong chiến đấu, bị nguyên một băng tiểu liên quét trúng, ngã trong cánh tay tôi, người đầy máu thều thào: "Em chết, trung úy ạ..." cả những lúc ấy tôi vẫn chưa cảm thấy mùi Thần Chết.

 Nhưng ở đây, Cổng Trời Cắn Tỷ, những năm 60, tôi ngửi thấy và cảm thấy nó rất gần. Lặng lẽ, lặng lẽ nó tiến đến. Không thể nào cản nổi. Một cặp lỗ hổng vô cảm của đôi mắt, một tiếng gọi tên, vài cái lưỡi lê chĩa vào... Thế là ra đi, thế là chết.

 Một người ra khỏi cửa, những người còn lại nhìn nhau chờ đợi. Không ai nói với ai điều gì. Chúng tôi ăn cơm hai bữa một ngày, chín giờ sáng và ba giờ chiều. Ăn xong ngồi nhìn nhau. Chờ.

 Các đấng bậc tu sĩ rất ít nói, nhất là Đinh Hiền Lương, dòng tu ép xác Châu Sơn. Trông Đinh Hiền Lương tôi nhớ đến Đức Giám Mục Lê Hữu Từ địa phận Phát Diệm: khô, gầy, mặt đầy nếp nhăn khắc khổ. Tuy còn trẻ hơn nhưng tu sĩ Lương cũng gần giống vậy, chỉ có nước da trắng xanh hơn vì ở xà lim suốt. Tuy ông mặc áo tù, nhưng trước mắt tôi vẫn cứ hiện lên hình ảnh của Giám mục Lê Hữu Từ, người ngồi đó lặng lẽ ôn tồn nhẹ nhàng để đi đến cái chết.

 Ở với ông lâu, nhưng tôi chưa được nghe một câu chuyện nào do ông kể, vì ông chỉ nói mỗi ngày có vài tiếng thật cần thiết để tồn tại. Còn thì im lặng suốt. Cái im ắng của ông, tỏa ra chung quanh, đè xuống mọi người.

 Trong cái nhà mồ đó, có tôi và Trần Văn Liệu (Cầu Giát Nghệ An) vốn ăn to nói lớn thế mà lúc ông làm việc thiêng liêng, tôi, nhất là Liệu đến phải khép nép, và im lặng. Đúng là một cái nhà mồ. Những người ở trong cái nhà mồ ấy chết gần hết, chỉ còn lại tôi, và hình như Liệu nữa.

 Nhà tù của chúng tôi không có tên, hoặc là có thì đây: 65HE Bộ Công An, hay Công trường 75A Hà Nội. Những người Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình đi thăm, hỏi Công an địa phương, họ cho cái địa chỉ đó. Có người ngây thơ nghĩ rằng, người thân của mình được ra làm Công trường ở Hà Nội. Họ ùa đi tìm và không bao giờ thấy cả.

 Vậy nó ở đâu?

 Ở thị xã Hà Giang đi lên, qua đèo Quyết Tiến đến Cổng Trời là gần biên giới Việt Trung chỗ có thể chưa được phân định rõ ràng, có thể là đất Tầu có thể là đất ta, một thung lũng không có tên, không có dân, chỉ có tù và người coi tù. Mặt đất đầy nghệ. Rừng nghệ. Tù lấy lá nghệ mọc trong gầm giường ăn thay rau chống đói. Không biết mình ở đâu? Không định được tọa độ trên bản đồ. Hàng rào cao kín mít, con chim không bay qua, con chuột to chui không lọt.

 Sang đến năm 1963, thì tù phá đá ở ngay trong sân trại xây tường bao quanh. Tường cao như tường Hỏa Lò Hà Nội. Có dây kẽm gai, có điện truyền vào dây kẽm gai. Nghĩa là cực kỳ kiên cố. Không ai có thể trốn thoát được. Không một ai cả. Chế độ kiểm soát tù nhân cực kỳ nghiêm mật. Không một mảnh giấy lọt vào. Không một cái gì có thể gạch hoặc viết được ra chữ tồn tại trong tù. Không báo chí, thư từ. Tù nhân cấm không được viết thư và nhận thư. Nói khó ai tin: Cuộc chiến tranh với Mỹ xảy ra năm 1964 ở miền Bắc không một ai trong nhà tù biết cả. Chỉ thấy có một hiện tượng là những bức tường rào bao quanh được ngụy trang và các mái nhà được che phủ. Thế thôi. Không ai đoán ra được cái gì. Mãi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tầu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi. Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.

 Cực giỏi. Những người CS cực giỏi trong quản lý nhà tù, cũng như trong cái trò bưng tai, bịt mắt quần chúng nhân dân.

 Một bức màn sắt đúng nghĩa.
 *

 Đây là nhà tù, chứ không phải là nhà thờ. Vậy cấm cầu kinh, cấm lần tràng hạt, cấm làm dấu thánh. Cấm được ngồi trong đêm; vì không ai nằm mà cầu kinh cả.

 Vậy nên cửa sổ nhà tù lúc nào cũng phải mở, mây bay vào qua cửa sổ mang cái lạnh chết người vào theo.

 Cái màn cho tù, là một cái quan tài bằng vải. Quy định màn chỉ được cao 40cm để nếu tù có ngồi ban đêm cầu kinh thì nhô cái đầu lên, lính canh đi tuần có thể kiểm soát được, quản giáo đi tuần có thể nhìn thấy. Vậy cái màn dài 1m8 và cao 40cm, thì đúng là một cái quan tài bằng vải sô liệm người sống rồi còn gì.

 Cứ từng bước một, Ban giám thị trại thi hành chính sách diệt tôn giáo, cụ thể là diệt Thiên Chúa giáo. Vì ở Cổng Trời tôi chưa hề gặp một nhà sư hoặc một Phật tử nào. Chỉ gặp các linh mục và các tu sĩ Thiên Chúa Giáo mà thôi. Có lẽ ở miền Bắc Việt Nam thời ấy không còn đạo Phật đúng nghĩa của nó. Trong cái nhà mồ đó, có một tôi là người là không theo đạo Thiên Chúa, nhưng tôi không phải là Phật tử. Tôi không thờ Phật, không tin vào Niết Bàn và Thích Ca Mâu Ni tuy tôi rất thích câu kệ:

 Nhạn liệng từng không

 Bóng in mặt nước

 Nhạn không có lòng ghi dấu

 Nước không có ý lưu hình

 Với tôi, tất cả sư mô ở Bắc Kỳ đều là sư hổ mang, học trường Đại Học Tôn Giáo, tu theo nghĩa vụ, như nghĩa vụ quân sự, hết ba năm ra khỏi chùa về nhà lấy vợ đẻ con. Thế cả.

 Và tôi cũng nghĩ sai về các tu sĩ Thiên Chúa Giáo như thế. Nhưng tôi đã thật sự gặp các vị thánh tử vì đạo. Các vị thánh tử vì đạo bằng xương bằng thịt sống cạnh tôi nhiều năm, mà tôi vẫn coi thường, nhưng cái chết của họ đã làm tôi phải nghĩ khác đi. Tôi vốn xa lạ với các tên Phêrô, Phaolồ và Mađờlen. Nhưng cái tên Đỗ Bá Lung thì cho đến hết đời tôi không thể nào quên được. Tu sĩ Đỗ Bá Lung người lù khù nhưng tử tế, hiền lành, củ mỉ như một nông dân chân chính của đồng bằng Bắc Bộ. Chả là ông tu ở xứ đạo Ngọc Đồng, Hưng Yên mà. Ông chưa được phong linh mục cũng như ông Diệu ở Thụy Phương Hà Nội, ông Chính (Nhẩm) ở Trung Đông Thái Bình. Ông chả kể về ông mấy khi.

 Trong cái nhà mồ đó chỉ có thầy Chính là có kể cho tôi nghe đôi điều về quê hương Thái Thụy của người, và về xứ đạo ven biển Trung Đông mà thôi. Thêm nữa có nhà trí thức xứ Nghệ Khánh Sơn với đôi kính cận dầy cộm, ra cái điều học nhiều biết rộng, thiên kinh vạn quyển, cổ kim, Âu Á, hay nói với tôi về Phúc Âm, về Thánh Thomas d'Aquin. Tôi nghe ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Tôi vốn không có đức tin và vốn coi thường cái học vấn hẹp hòi của các vị đó thường giới hạn đến hết sân Nhà Thờ, nên tôi chỉ nghe chơi cho qua ngày đoạn tháng, cho qua cái thời gian dài dằng dặc khốn nạn ở trong cái nhà mồ mà thôi.

 Tôi ít lưu tâm đến vấn đề tôn giáo. Cũng như tu sĩ Đinh Hiền Lương, tu sĩ Lung cứ lững thững đi lại, chậm rãi, lặng lẽ tới lui, ông có nhiều lời hơn bậc tu ép xác dòng Châu Sơn một chút, nghĩa là đôi lúc ông có nói với tôi về Phố Nối và con đường 39 về xứ Ngọc Đồng nơi ông tu.

 Vùng của ông, tôi có hành quân qua nên cũng có đôi chút kỷ niệm, vả lại trời cũng phú cho tôi một trí nhớ tốt, cho đến tận bây giờ, sau gần 50 năm trôi qua, mà tôi vẫn nhớ rõ tên; tên chữ cũng như tên nôm của các làng vùng đó như: Duyên Trang Duyên tục là Tuộc, Lác; Hải An là Hối; Phù Lưu là Đọ (ngã ba Đọ); Đống Năm là Đông Các; Thượng Tầm là Tìm; Cổ Hội là Gọ (cầu Gọ); Cầu Sắt là Nha Xuyên... Cho nên tôi và ông thỉnh thoảng có ôn lại các địa danh Lực Điền, Trương Xá, Kim Động, dốc Lã, rồi đến nhãn Hưng Yên, thang cuốn Phố Hiến, dưa hấu Đình Cao, Phù Cừ và cả về việc chỉ huy sở của khu chiến chiếm Chủng viện Hưng Yên.

 Về ông tôi biết hời hợt thế thôi. Nhưng có một điều ông như thế mà bị đầy lên đây vào khu 2A này thì chắc ở trong còn tiềm ẩn một điều gì sâu sắc lắm, cao đạo lắm, quyết liệt lắm mà tôi chưa hiểu nổi đấy thôi.

 Như trên tôi đã nói: những người ở trong nhà mồ cứ lần lượt bị gọi đi. Luôn luôn lặng lẽ và đột ngột. Nhưng thời gian xảy ra câu chuyện này hơi có sự thay đổi:

 Người giám thị cũ của trại giam tên là Nhân chuyển về làm Cục phó Cục quản lý trại giam vì thành tích xuất sắc của mình, thay vào đó là giám thị Nguyễn Quang Sáng, trẻ hơn, người Nam Hà. Nói qua một chút về giám thị Nhân. Trước khi lên đây, giám thị Nhân coi trại Yên Bái, trại này cũng vào hạn khá đặc biệt, khi chưa có Cổng Trời. Năm 1954, trại này nhốt tướng De Castries người chỉ huy Điện Biên Phủ. Sau đó là những địa chủ cường hào đại gian đại ác có nợ máu, những tên phản động nguy hiểm từ trong Nam ra, từ khu Tư lên, tập trung ở đó, rồi sau đó chọn lọc đem lên Cổng Trời.

 Giám thị Nhân người Nghệ An, trông gầy (tôi có được gọi lên gặp hai lần) và khô, mặt tai tái lạnh lùng, đúng típ người coi trại giam, rét cắt ruột vẫn đi đôi dép lốp cao su, mà ngón chân út của bàn chân cáu ghét nứt nẻ bao giờ cũng thò ra ngoài quai kẹp lấy nó để đi cho chắc. Rất đúng tác phong quần chúng xuất thân từ nông dân lao động:

 Những bàn chân từ than bụi lầy bùn.

 Đã bước dưới mặt trời cách mạng...

 Những bàn chân đã vùng dậy đập đầu

 Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp

 (Tố Hữu)

 Đúng thế, những bàn chân ấy đã dẫm lên xác không biết bao nhiêu người ở các trại giam khác và bây giờ đây lại tiếp tục làm nhiệm vụ của nó: dẫm lên xác những kẻ ở nhà mồ Cổng Trời này.

 Có điều giám thị Nhân dẫm lên xác một cách nhẹ nhàng và im ắng. Còn giám thị mới Nguyễn Quang Sáng thì dẫm lên xác ầm ĩ hơn, trang trọng hơn, bài bản hơn. Âu cũng là cách làm khác nhau của họ. Đổi mới mà.

 Hôm ấy, rét làm đông nước. Ở mái nhà nước đóng thành băng. Sáng ra, nhìn qua cửa sổ ra sân trại, khói bốc nghi ngút trên mặt đất. Như mọi ngày, chúng tôi tiến hành mọi việc như thường lệ. Với chúng tôi: Stalin chết, Malenkốp chết, John Kennedy bị bắn, Ngô Đình Diệm chết, Kroutchov bị hạ bệ, chả có gì quan trọng cả.

 Giám thị Nhân đã từng tuyên bố vào mặt chúng tôi:

 "Cái sống chết của các anh ở trong tay chúng tôi. Đừng có mơ tưởng hão huyền gì. Cho dù có động trời, động đất xảy ra, thì trước khi chuyện đó đến với các anh, nó phải tới cái trại đặc biệt này. Nghe cho rõ mà nhớ lấy. Trước khi mọi điều vi­n vông, vi­n tưởng mà các anh mong đợi xảy ra, thì các anh đã không còn ở cõi đời này nữa, các anh đã là những cái xác chết rồi."

 Chúng tôi nghe và cũng hiểu đúng như vậy. Cho nên, động đất, chiến tranh ai chết. Mặc. Chúng tôi cứ lặng lẽ, lặng lẽ tồn tại. Chỉ tồn tại thôi chứ không phải là sống. Làm một sinh vật trên trái đất này ai chả tham sống sợ chết. Tôi phải nói lại ngay, ấy là nói với riêng tôi thôi, chứ còn các vị thánh tử vì đạo thì điều ấy hình như không đúng đâu.

 Cố Hoàng đôi lúc cao giọng:

 Ở nơi lưu đầy

 Dù gươm chém hay đầu rơi

 Lòng vàng đá không hề phai

 Dù gươm chém hay đầu rơi...

 (Cha Vinh)

 Các đấng bậc ấy chả sợ, chả phàn nàn điều gì. Chả bù với tôi, luôn miệng kêu: "Chao ôi đói quá! Chao ôi rét quá! Chao ôi khổ quá! Chao ôi..." Được cái tôi chỉ kêu lên thế thôi, cho nó thoát ra ngoài một chút thế rồi thôi, chả mong gì uất khí làm cho đầu trắng xóa như thái tử Đan ở nước Tầu xưa kia, vì tôi cũng đã biết:

 Gémir, crier, pleuer

 est également lache

 Và tôi nghiến răng lại để không bao giờ làm kẻ hèn nhát. Dù không được mười phần như các đấng bậc quanh tôi, tôi cũng cố đạt mức trung bình.

 Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nhìn nhau, thì cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Đủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo Trực, giáo dục, Phó giám thị phụ trách khu. Tất cả đều đội mũ bình thiên, l­ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. Còn trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).

 Bài nói như sau:

 "Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rõ.

 Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đã sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại còn ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho Ban giám thị báo cho các anh biết:

 Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào còn dám chống lại Đảng và Nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với dun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố tình chống đối lại.

 Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Đỗ Bá Lung."

 Im lặng.

 "Tôi hỏi: anh Đỗ Bá Lung có nghe thấy không?"

 Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: "Có tôi."

 "Đứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy."

 Vì buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân vòng tròn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Đỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.

 Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.

 "Bỏ chăn ra."

 Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân mình.

 "Anh Đỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đã đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại Đảng và Chính phủ.

 "Đến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của Ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Đỗ Bá Lung và các anh nghe cho rõ. Kẻ nào còn dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với dun.

 "Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác thì Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được].Bây giờ trước mặt tôi anh có còn dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?"

 Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.

 Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:

 "Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?"

 Những phút giây này Thần Chết đã có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: "Đảng Cộng Sản muôn năm. Hồ chủ tịch muôn năm." Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dõng dạc như thế.

 Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Đỗ Bá Lung ngẩng đầu:

 "Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế."

 Tiếng quát bật ra giận dữ:

 "Lôi nó đi."

 Không để ai phải lôi kéo cả.

 Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Đi ra cửa.

 Hàng lưỡi lê dãn ra. Quản giáo, giám thị dãn ra để cho tu sĩ đi. Đến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc "âm phủ" trao lại cho người ngồi gần. Vì tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: "Anh Vĩnh, tôi còn mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng."

 Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:

 "Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi."

 Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.

 Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đã đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi l­ hơn, có bài bản hơn những lần trước.
 *

 Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Đang, "tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm" đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.

 Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Đang thì anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.

 Chao ôi là chao ôi.

 Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đãi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, hình như làm Cục Phó Cục Quản Lý trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều gì đó. Đến giờ ông ta tử tế đáp l­ lại. Chắc là thế.

 Anh luôn bảo, anh không có tội gì cả. Nếu có -- theo anh -- thì đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lửng lờ và khó hiểu như vậy.

 Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:

 "Này, cái lão Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ còn đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi."

 Nhưng mà sống mãi làm sao cho được nỗi với chế độ hà khắc giết người đó. Tu sĩ Lung phải chết. Người ta đóng các cửa sổ lại để không ai nhìn thấy chiếc chiếu gói xác khênh đi qua. Mỗi lần chôn, có hai tù hình sự ở trại ngoài vào, đem theo một chiếc chiếu, đòn khiêng và dây thừng. Thường hay chôn vào buổi chiều tà. Chôn xong họ được bồi dưỡng một cân đường, hai cân gạo nếp. Cha Quế và Cha Vinh chết, thì đâu như phần chôn còn được thêm một cân lòng trâu.

 Thế là với chúng tôi, tu sĩ Đỗ Bá Lung xứ Ngọc Đông Hưng Yên không bao giờ về nữa. Người đã chết, và coi như mọi chuyện đã hết. Nhưng câu chuyện lại chưa chấm dứt ở đây ở lúc đem tu sĩ Lung đi chôn.

 Ở đoạn trên, chúng ta đã biết là Tu sĩ Đỗ Bá Lung đã vào Hầm Chết ba tháng mà vẫn chưa chết. Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng rất sốt ruột, luôn luôn hỏi anh Nguyễn Hữu Đang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm, người độc nhất được đưa cơm vào xà lim:

 "Thế nào, nó chết chưa? Cái thằng Lung ấy."

 "Thưa ông, anh ấy chưa chết."

 Nguyễn Hữu Đang có cái đáng quý là anh không gọi ai ở trong tù bằng thằng cả. Trong khi bọn trật tự viên hình sự luôn luôn nói theo giọng quan thầy, ông chủ chúng đều gọi tù nhân bằng thằng này thằng nọ.

 Tôi có một anh bạn rất thân tên là Sâm. Khi hỏi cung tôi, cán bộ công an hỏi:

 "Anh thấy thằng Sâm nó thế nào?"

 "Thưa ông, tôi không quen thằng Sâm nào cả?"

 "Anh láo, anh chối hả? Thằng Sâm mà anh không quen thì anh còn quen ai nữa?"

 "Thưa ông, nếu ông nói về anh Đỗ Văn Sâm học cùng với tôi ở trường Chu Văn An thì tôi quen rất thân. Nhưng xin ông nhớ cho là anh ấy chưa bị bắt, ông không nên gọi thằng này thằng nọ như thế."

 Tôi chỉ dám trả lời lại có thế thôi, nhưng còn anh bạn Phan Hữu Văn, thì anh ấy trả lời hay hơn tôi nhiều:

 "Thưa ông, tôi tưởng ông nói tới thằng Vĩnh lưu manh, ma cà bông ở cùng trại 13 với tôi thì thật tình tôi không bao giờ biết tới quân ăn cắp ấy cả. Nhưng tôi có quen ông Kiều Duy Vĩnh, học sinh trường Chu Văn An cũ, nguyên Đại úy Tiểu khu trưởng Ninh Giang. Chúng tôi không dùng những từ thằng này thằng nọ mày tao mi tớ bao giờ. Chỉ có bọn vô học, vô văn hóa, vô giáo dục thì mới dùng những từ đó mà thôi."

 Tên công an tím mặt lại, đuổi về trại đi cùm.

 Lại nói về tu sĩ Đỗ Bá Lung, hết tháng thứ ba ông chưa chết, nhưng sang đến tháng thứ tư vào dịp gần đến l­ễ Thiên Chúa Giáng Sinh ở Cổng Trời đôi lúc không độ, nước đóng băng thì tu sĩ Lung chết.

 Nguyễn Hữu Đang vội vã bá cáo với Trực trại là tu sĩ Lung đã chết.

 Ngay buổi chiều hôm đó, mọi cửa sổ nhà giam đều bị đóng kín lại, có hai người tù hình sự ở trại ngoài đem đòn, dây thừng và một chiếc chiếu vào khênh đi chôn. Họ chôn xong, về lĩnh mỗi người một cân đường và một cân gạo nếp. Đâu như những lần chôn cất cha Vinh cha Quế họ được thêm mỗi người một ký lòng trâu.

 Đối với chúng tôi thì là Tu sĩ Đỗ Bá Lung đã chết, đã đem chôn. Người chết hết chuyện. Thế nhưng trường hợp của Tu sĩ Lung lại không hết chuyện. Thế mới phiền.

 Cũng chừng độ ba tháng sau, một ngày nắng vàng rực rỡ, trời ấm áp dễ chịu, người ta thấy, lù lù một tu sĩ Đỗ Bá Lung chống gậy xuất hiện ở trại Cổng Trời.

 Thế là náo loạn cả lên. Từ Ban Giám thị trại, đến lính coi tù, đến tù nhân đều tới lui, bàn ra tán vào, rì rầm nhớn nhác. Cửa sổ các trại lại đóng như khi ông chết mang đi chôn. Họ đưa ông vào ở tạm một cái buồng con chỗ cán bộ giáo dục "lục vấn" người tù. Chứ chả lẽ lại đưa ông vào Hầm Chết lần nữa!

 Hóa ra là hồi ba tháng trước ông chưa chết hẳn, hoặc là ông đã chết mà một phép lạ đã làm ông sống lại. Câu chuyện xảy ra như sau:

 Sắp đến chỗ chôn thì trời đổ mưa to, hai người tù hình sự tránh mưa, để ông nằm đó chạy vào trú mưa ở nhà một người Mèo, họ vào đấy uống rượu chờ tạnh mưa. Mưa hồi lâu, và rượu hơi ngon nên trời chập choạng tối họ mới lần xuống, thì không thấy bó chiếu đâu nữa.

 Họ nghĩ có lẽ thú dữ, hoặc chó sói đã tha cái xác ấy đi rồi. Có sao đâu, khỏi phải chôn. Họ về và cũng chả có ai hỏi là họ chôn xong chưa? Mọi lần vẫn thế. Mặc nhiên coi như đã chôn xong.

 Hóa ra là khi họ đang uống rượu thì mưa to hơn lại có sấm chớp nữa làm tu sĩ Đỗ Bá Lung tỉnh lại, dây buộc thì lỏng lẻo, ông chui ra khỏi cái chiếu, lấy cái chiếu che mưa lần vào cái chuồng trâu gần đó. Hơi ấm của trâu, của phân trâu làm ông hồi tỉnh lại và sáng hôm sau, chủ nhà người Mèo nấu cháo ngô cho ông ăn và nuôi ông. Thế là ông sống lại.

 Ông sống lại một cách khỏe mạnh. Người Mèo cho ông ăn no so với sáu ký gạo cộng với sắn trong một tháng thì cháo ngô đã làm ông hồi phục nhanh chóng.

 Nhưng làm sao mà sống mãi ở nhà họ được? Mà trốn trại thì trốn về đâu? Và làm sao mà trốn thoát được. Giấy tờ không, tiền không, với 100km đường rừng, 300km đường bộ, ông đi làm sao được. Chỉ có một con đường độc nhất xuống núi thì bị kiểm soát thật ngặt nghèo, ông làm sao đi thoát. Vậy chi bằng quay trở lại trại Cổng Trời là hơn cả.

 Thế là ông quay về trại sáng hôm đó.

 Nhưng phiền là Ban giám thị trại đã báo cáo về Bộ cái thành tích tiêu diệt tên phản động đội lốt thầy tu Đỗ Bá Lung rồi, và trên Bộ đã gạch xóa tên Lung trong danh sách tù ở Cổng Trời rồi. Làm sao bây giờ? Phải có phương án nào chứ.

 Hai hôm sau, có một xe com-măng-ca của Bộ lên trại Cổng Trời. Ông Đỗ Bá Lung lên chiếc xe đó. Ông đi đâu? Và sẽ ra sao? Cho đến giờ chúng tôi cũng không biết gì hơn về tu sĩ Đỗ Bá Lung, người đã chết và đã sống lại đó.

 Kiều Duy Vĩnh

 1995
Linh Mục Nhạc Sĩ Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh (1912-1971)

Cha Chính, Tổng Đại Diện, Giáo Phận Hà Nội

***

[Image: 514278851_122137224686704469_90772345196...e=6890324F]


PHẦN 1

Bối Cảnh U Ám Thời Chinh Chiến Đầu Thập Niên 1950 tại vùng Đồng Văn, Phủ Lý, Hà Nam Bắc Phần Việt Nam


1. Đã từ lâu người cựu chủng sinh họ Đỗ tiểu chủng viện Piô XII Hà Nội đã cố tập trung tài liệu để viết về Linh mục Nguyễn Văn Vinh, người cha linh hướng thánh thiện, một vị anh hùng tử đạo kính yêu, đầy kiêu hùng của bản thân cậu, của nhiều người, và của Giáo Hội Việt Nam.

Đoạn đường cậu di chuyển từ Tiểu chủng viện Thánh Phêrô Hoàng Nguyên, trong vùng Cộng Sản chiếm đóng sang vùng tề (quốc gia không Cộng Sản) sau những ngày hè có nhiều xáo trộn đặc biệt. Hoàng Nguyên thuộc Quận Phú Xuyên, Tỉnh Hà Đông. Tình hình này diễn biến từ tháng Năm đến Tháng Tám năm 1952.

Khu chủng viện và nhiều làng xóm chung quanh đó thuộc Quận Phú Xuyên và Huyện Duy Tiên, Hà Nam đã nằm trong vùng kiểm soát của quân du kích Cộng sản, sau một thời gian ở trong vùng tề của quân đội Liên Hiệp Pháp. Trong lúc rời chủng viện Hoàng Nguyên về làng Hòa Khê, nơi sinh nhau cắt rốn của mình, dưới bộ đồ trắng cậu phải đi vội như chạy, trên đường đá bên kia con sông đào Hòa Khê. Mắt cậu như như dán chặt, trông chừng chiếc máy bay do thám bà già liên tục cứ xà thấp xuống quan sát toàn khu vực.

2. Về đến nhà, cậu chủng sinh thấy Mẹ và hai chú em trai đang vùi đầu chuẩn bị các thứ đồ đạc, thức ăn cho cậu rời làng Hòa Khê. Đạn móc chiê ùng oàng bắn loạn vào vườn, chẻ nát bụi tre làng, bên cạnh nhà. Mẹ vội giục giã con đi sớm ngay vào Đồng Văn để tránh nguy hiểm, không kịp ngó lại những kỷ niệm thời thơ ấu trong thửa vườn đầy luyến thương. Ngay chiều sâm sẩm tối hôm ấy, mẹ con cậu âm thầm mang vào Đồng Văn cho Cha cậu đã chạy vào đó từ trước. Họ khẩn trương chuẩn bị cho cuộc di chuyển của toàn thể gia đình cậu tản cư lên Hà Nội.

Tuy chậm chân thoát ly làng lên thành thị cải thiện cuộc sống gia đình, nhưng đó là cơ hội bắt buộc vì hoàn cảnh chiến tranh, gia đình cậu phải đi, dù tương lai ra sao. Cậu cùng mẹ đầy âu lo vội tìm, đi theo các lối khuất giữa các ruộng ngô khoai hay các bờ ruộng nhô cao khô ráo. Mẹ con cũng đã tới được nơi căn nhà cha cậu tản cư và tạm ngụ cùng với anh Truyền, Phổ đã đi từ trước, và anh Nguyễn. Anh này là con trai con ông Cửu Hoàn, anh ruột cha cậu mà cậu thường gọi là Bác Hoàn.

Đó là một gian nhà lợp vội bằng tre rơm rạ, trống trải mà người ta cất lên và cho thuê ở trạm Đồng Văn, bên vệ đường quốc lộ số 1, đã bị quân du kích Cộng Sản đào nát ở nhiều chỗ theo chữ chi, để “tiêu thổ kháng chiến chống Pháp”. Ban ngày ngoài đường ai nấy đều nhốn nháo, kẻ đi lên người đi xuống, chạy trốn cảnh chiền tranh. Cậu, như con thiêu thân, say mùi thuốc pháo và hơi xăng xe ô tô Ngựa Bay và nhiều hãng khác, chạy trên quốc lộ. Ban đêm, súng móc chiê từ Bót Cống Nhật Tựu gần Sổ Nghệ hay phía sau làng Động Linh, bắn ùng oàng vào các làng bị chiếm đóng nằm hai bên đường quốc lộ số một.

Các toán lính đi tuần ban đêm trên đường trước mái nhà tranh sơ sài mà người ta ngủ bên trong. Qua những khe hở qua phên liếp tre đan, dưới ánh đèn điện vàng khè leo lét, hầu như cả nhà từ bên trong, ai cũng đều ngó xem những toán lính từ đâu trên xe tải nhà binh đổ xuống. Họ đi tuần ngay bên ngoài mặt đường. Người ta nơm nớp lo sợ khi có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ran, chung quanh đồn gần đó, khua tan đêm ngủ không tròn giấc.

Từ trạm ga Đồng Văn, một hôm anh Truyền và cậu đi xe đạp trên đường số một đã bị đào chằng chịt, hạn chế việc di chuyển của quân đội Liên Hiệp Pháp và những chuyến ô tô của dân buôn. Hai anh em xuống thăm chị Hợi ở làng Kẻ Sở (Hồng Phú), rồi vòng lên huyện lỵ Phủ Lý vào thăm gia đình anh chị Xã Hòa. Gia đình này đã từ làng Thủy Trú rủ gia đình ông bà Hàn Tịch cùng tản cư xuống đây. Bà Hàn Tịch là chị ruột của Lý Phẩm, và hai cô chú ấy đều là em họ hai cậu

Ở Nam Định, anh Doanh đã phải bỏ nghề dân quân tự vệ tại các bốt (postes) trong các làng vừa bị quân kháng chiến chiếm đóng, để tham gia quân đội Liên Hiệp Pháp, khi vùng tề bị đánh phá chiếm đóng. Anh đang lái xe Jeep cho một viên sĩ quan Pháp, nhưng chuẩn bị đào ngũ để mang gia đình và con cháu tản cư lên Hà Nội. Anh kiếm thuê một miếng đất ở phố Đội Cấn, Khu Ngọc Hà, Hà Nội để nuôi sống gia đình trong những ngày chạy loạn lên Hà Nội.

Đi Hà Nội Lần Đầu Tiên

Cậu đi Hà Nội trước để kịp gia nhập chủng viện. Cha cậu, anh Truyền, anh Phổ và anh Nguyễn trù liệu thu xếp chuyển lên Hà Nội sau. Cha cậu sẽ đến cư ngụ tại số 78 Phố Đội Cấn Khu Ngọc Hà, Hà Nội, chung nhau mở hiệu thuốc Bắc, người góp công kẻ góp của, với cha con ông bà Dần. Ông bà này người thuộc giáo xứ Chằm hạ, mới trúng sổ xố nên có đủ tiền mua nhà ở Hà Nội.

Còn gia đình anh Ngoạn, Nguyễn tạm trú tại nhà anh Ba Khoa, thuê tại gần khu Thái Hà Ấp, cùng với anh Truyền, Phổ, hai anh ruột lớn của cậu. Khi cha cậu lên cư ngụ ở Phố Đội Cấn, ông mở cửa hiệu thuốc làm Đại Lý Nhà Thuốc Đông Hoa để kiếm tiền sống qua ngày.

Khi cha cậu ổn định tại đây, thì mẹ cậu, chị Hợi, anh Truyền, Phổ cũng đến thăm cha cậu tại Hà Nội. Chị ở chơi Hà Nội mấy ngày thăm cha mẹ, các em, rồi trở lại Hồng Phú. Anh Phổ ở lại Hà Nội, học nghề may với anh Ba Khoa, còn mẹ lại đi đi về về nhiều lần sau mới lừa quân du kích trong làng bỏ nhà hẳn đi lên Hà Nội với hai em Trang và Dzong.

Gia Nhập Tiểu Chủng Viện Piô XII Hà Nội Sau Hè 1952

Trong bối cảnh ly tán của những người thân trong gia đình, cậu chủng sinh đã chuyển trước lên cư ngụ Quần Ngựa, gia nhập tiểu chủng viện Piô XII, lúc đó đặt cơ sở tại Trường Lacordaire mà chủng viện tiếp quản từ các linh mục thừa sai Paris. Trước đó các thừa sai này (cụ thể là Linh Mục Paul Seitz Kim coi Cô Nhi Viện Thị Xã Kitô Vương, về sau chuyển đến Gò Đống Đa, lối đi xuống thị xã Hà Đông) tiếp nhận từ các linh mục dòng Đaminh chi tỉnh Lyon tại Việt Nam. Cô Nhi Viện vừa tản cư từ cơ sở tại Sơn Tây về Hà Nội.

Thụ Huấn với Linh mục Nguyễn Văn Vinh, cha giáo Pháp Văn và Âm Nhạc

Từ đó, cậu theo học, được xếp vào lớp Đệ Thất, lớp nhỏ nhất trong chủng việc khi đó và từ đó biết chút ít về Linh mục Nguyễn Văn Vinh. Lúc ấy Linh mục mới ở Pháp trở về sau mười mấy năm du học tại Pháp. Ngoài LM Vinh, con có một số linh mục mới từ bên Pháp về nước: LM Lê Văn Lý, Đình Lưu Nhân, Trần Trinh Khiết. Về sau, khi chủng viện vào Nam, thì có thêm các Linh mục Nguyễn Ngọc Oánh, Nguyễn Minh Thông, và Phạm Hân Quynh.

Như cậu nghe biết, ngài sinh tại làng Ngọc Lũ, Nam Định, chưa có tư liệu để biết ngày sinh tháng năm sinh của ngài, nhưng chắc là sấp xỉ cùng tuổi với linh mục Lê Văn Lý (1913-1992). Ngọc Lũ là một làng quê gần núi Đọi Đệp, hay Đọi Sơn, gốc gác nổi tiếng của Trống Đồng Ngọc Lũ, một trong những nôi văn hóa truyền thống của dân Việt.

Đó cũng là nơi xuất phát nhiều dòng tín hữu tử vì đạo trong thời kỳ cấm đạo (1771-1885). Trong thời gian du học tại Pháp Linh mục Nguyễn Văn Vinh đã gia nhập dòng Biển Đức. Nhưng khi về Hà Nội, cậu chỉ biết Linh mục là một giáo sỹ thuộc địa phận Hà Nội. Linh mục say mê và rất giỏi Violon. Tôi nghe nói là Linh mục đỗ đầu trong các thí sinh trúng tuyển kỳ thi vĩ cầm (violonistes lauréats) ở Conservatoire National Supérieur de Musique de Paris.

Mấy Hàng Tiểu Sử Linh Mục Nhạc Sĩ Gioan Tẩy Giả La San Nguyễn Văn Vinh (1912-1971)

Chú Thích Đặc Biệt: Chị Trần Thị Hường, cựu ca viên thuộc Ca Đoàn Nhà Thờ Lớn Hà Nội thời Linh Mục Nguyễn Văn Vinh bị bắt lâm cảnh tù tội, từ Hà Nội, đã đánh máy những trang tài liệu liên quan đến cha Vinh. Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Bích sưu tập và công bố tài liệu này trong cuốn “Nhân Vật Công Giáo Việt Nam Thế Kỷ XVIII – XIX – XX” (Xuất bản tại Sàigòn năm 2006, lưu hành nội bộ, 710 trang,) chuyển sang Hoa Kỳ qua internet cho người viết. Nếu không có cách làm việc thời điện tử không gian hiện đại tận tụy này, người viết không thể bổ sung những chi tiết này theo cách trình bày của mình. Xin cảm ơn ba vị: chi Trần thị Hường, Ô. Lê Ngọc Bích và Cao Kỳ Hương và những ai đã có công sưu tập tài liệu liến quan đến cha Vinh. Xin Ngài cầu bầu cho mỗi người trước nhan thánh Chúa phục sinh muon đời.

Linh mục Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại quê nội, ở làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Định.

Thân phụ Linh mục là Ông Giuse Nguyễn Văn Nhi, quê Ngọc Lũ, gia nhập giáo hội Công giáo khi lập gia đình với cô Maria Hoàng Thị Mùi, người làng Vân Đồn, xã Vân Hồng, huyện Thái Thủy, tỉnh Thái Bình (nay thuộc giáo phận Thái Bình).

Thân mẫu Hoàng Thị Mùi đã từng một thời đi tu dòng Cát Minh Hà Nội, nhưng rồi đã chuyển hướng ơn gọi để sống đời giáo dân bình thường. Hai ông bà sinh được 3 người con, trong đó Nguyễn Văn Vinh là anh cả của hai người em nữa. Hai người sau này mất sớm. Ông bà Nhi nhận hai người con nuôi thay hai người con đẻ đã sớm về với Chúa.

Ông Nhi vốn tính hiền lành đạo đức. Ông bị ngã, nằm liệt giường suốt mấy năm trời, rồi qua đời ngày 16/4/1937. Thân mẫu nhanh nhẹn, thông mình, tháo vát vui vẻ. Một điều hiếm có vào thời gian đó đối với nhiều người, nhất là giới bình dân ở thôn quê, bà nói tiếng Pháp trôi chảy và học được nghề Y Dược, nhờ được học hỏi về kiến thức chuyên môn Y Dược trong Tu Viện Cát Minh ở Hà Nội thời còn là tu sinh. Nhờ vậy, không những bà có thể nuôi sống cả gia đình mà còn giúp ích bà con lối xóm trong làng.

Thầy Nguyễn Văn Vinh đi tu làm linh mục. Đó là niềm hãnh diện lớn lao cho bà. Nhưng khi thầy Vinh đi du học bên Tây xa cách vời vợi, thì bà càng thương nhớ con, và chắc buồn khổ nhiều lắm, đến nỗi dần dần bị lao tâm khổ tứ và bà cụ qua đời, rồi đến ngày 22/5/1941, con trai không được gặp mẹ.

Đi Tu, Gia Nhập Tràng Latinh Hoàng Nguyên Giáo Phận Hà Nội

Cậu Nguyễn Văn Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, lanh lẹ, lại có năng khiếu âm nhạc, hội họa, thơ ca, có giọng hát đáng chú ý, lôi cuốn mọi người nghe. Trong xứ đạo Ngọc Lũ ai cũng cảm mến cậu thiếu niên này, nhất là cha xứ Dépaulis Hương. Cha thừa sai Dépaulis sẵn lòng bảo trợ cậu Vinh lên học Trường Puginier do các tu huynh dòng La San điều khiển tại Hà Nội. Vừa chăm, vừa ngoan, câu Vinh sớm lập được nhiều thành tích học tập tốt đẹp:

Các văn bằng cậu lần lượt đoạt được là:

« Études Primaires Élémentaires » (Sơ Học Yếu Lược, ngày 19/8/1927)

« Études Primaires Franco-Indigènes (Tiểu Học Pháp Nam, năm sau, ngày 20/5/1928)

Thế là cậu Vinh nhanh chóng được nhận vào học lớp Sáu, lớp đầu cuủ chương trình giáo dục đào tạo linh mục niên khóa 1937-1928, trong nhà tràng latinh (tiểu chủng viện) Hoàng Nguyên, nay thuộc Huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây,Giáo Phận Hà Nội.

Được Chọn Đi Du Học Pháp. Thụ Phong Linh Mục

Năm 1930, cùng với phái đoàn các thừa sai Pháp mà cha Dépaulis là một thành viên, thầy Nguyễn Văn Vinh và một số thầy khác, như Trần Trinh Khiết… được đi du học Pháp và cho vào học trường Đức Bà Kresler thuộc thị xã St Pol de Léon, tỉnh Finistère, miền Bretagne ở Tây Bắc Pháp. Đến năm 1934, thầy Vinh cùng một số thầy khác được chuyển lên học tại Paris và đỗ Tú Tài Pháp khóa ngày 29/6/1935.

Sau đó, thầy GB Vinh được học tiếp Đại Chủng Viện Xuân Bích, tại Issy-les-Moulineaux, Paris

Vào các năm 1937-1938-1939 tại chủng viện Paris, thầy Vinh lần lượt lĩnh nhận thừa tác vụ các chức nhỏ.

Qua năm 1940, năm thứ hai trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, có nhiều biến cố làm chuyển động nước Pháp mạnh mẽ. Thủ đô Paris của Pháp bị các lực lượng Đức Quốc Xã đe dọa rồi chiếm đóng. Dân chúng phải di tản đi khắp nơi tùy hoàn cảnh.

Lúc đó, toàn bộ Đại Chủng Viện Xuân Bích cũng phải chạy xuống Limoges, cách Paris chừng 375 cây số về hướng Nam. Tại đây, ngày 20/6/1940, Giám Mục Giáo Phận Limoges là Rastouil làm chủ lễ tấn phong linh mục cho thầy GB Nguyễn Văn Vinh và các thầy khác như Trần Trinh Khiết, Delabi, Delia.

Trong tình hình chiến tranh đang diễn ra khốc liệt, các tân linh mục Việt Nam phải ở lại Pháp, tiếp tục học tập. Trong lúc các linh mục sinh viên khác theo học các ngành như Toán (Đinh Lưu Nhân), Triết (Trần Trinh Khiết, Nguyễn Huy Mai) Ngữ học (Lê Văn Lý)…, Cha GB Nguyễn Văn Vinh ghi danh học Văn Khoa - Triết ở Đại Học Sorbonne. Cha còn theo khoa Âm Nhạc tại Nhạc Viện Quốc Gia Pháp về môn Sáng tác và Hòa âm. Về nhạc cụ, cha chuyên về Violon va Piano.

Trong thời gian học Đại Học, để có thù lao sinh sống và đi học thêm, các cha đều nhận làm tuyên úy cho nhiều cơ sở khác nhau. Cha Vinh nhận làm tuyên úy cho Đan Viện Cát Minh tại Pressi-Robinson, vùng ngoại ô Paris

Gia Nhập Dòng Biển Đức - Hồi Hương Về Hà Nội

Sau khi tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Văn Triết tại đại học Sorbonne, Paris, đồng thời tốt nghiệp Bộ Môn Hòa Âm và Violon tại Nhạc Viện Quốc Gia Pháp (Conservatoire National de Paris), cha Vinh chuẩn bị làm luận án Tiến Sĩ về khoa Tâm Lý Trẻ Em, nhưng rồi cha bỏ ngang công trình này để theo một nguyện vọng khác. Cha gia nhập dòng Biển Đức tại đan viện St Marie ở số 5 Rue de la Source, Paris XVI (người ta thường gọi là các “tu sĩ La Pierre-qui-vire”).

Đây là cuộc chuyển hướng ơn gọi quan trọng trong quá trình tu trì của Linh Mục Nguyễn Văn Vinh. Ngài muốn trở thành một tu sĩ dưới tu phục dòng Biển Đức khi về nươc, với lý tưởng Biển Đức.

Ngài dự trù lập một Đan Viện tại Việt Nam để truyền bá Tin Mừng theo tinh thần thánh tổ phụ Biển Đức, đậm đà bản sắc văn hóa Á Đông. Thế chiến II đã bắt đầu thì nay đến hồi kết thúc với chiến thằng thuộc về phe Đồng minh do Hoa Kỳ đứng đầu, khuất phục phe Trục Đức- Ý- Nhật có xu hướng phát xít.

Nước Việt Nam Mới Độc Lập.

Thế là đất nước Việt Nam chuyển sang khúc quặt mới: chế độ dân chủ cộng hòa độc lập, các tân linh mục có hy vọng hồi hương theo nguyện ước mới. Trong số những thanh niên đầy nhiệt huyết và hăm hở ấy, trên chiếc tàu Cap Varella từ Pháp về Việt Nam, có mặt các linh mục Đinh Lưu Nhân, Trần Trinh Khiết, Nguyễn Huy Mai, Nguyễn Văn Vinh, Lê Văn Lý, Nguyễn Quốc Bồng. Tàu cập bến Sàigòn đêm 14 rạng sáng ngày 15/8/1947, nhả xuống một số người và hàng hóa, rồi lại nhổ neo tiếp tục cuộc hải trình trực chỉ bến cảng Hải Phòng.

Cuộc Thành Lập Đan Viện Biển Đức Việt Nam Của Linh Mục Nguyễn Văn Vinh Không Có Kết Quả.

Sau 17 năm du học về nước, các tân linh mục giáo phận Hà Nội sẵn sàng về nước phục vụ. Giám Mục François Chaize Thịnh, (1935-1949), Đại diện Tông tòa Giáo Phận Hà Nội, giao phó nhiệm vụ đầu tiên cho Linh Mục Nguyễn Văn Vinh là làm chính xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội và dậy Kinh Thánh, âm nhạc cho các chủng sinh Đại Chủng Viện Xuân Bích Hà Nội trong thời gian từ 1947 đến 1950 dưới tu phục tu sĩ dòng Biển Đức.

Cũng chính trong thời gian này, Linh Mục Nguyễn Văn Vinh xúc tiến thành lập một Đan Viện Biển Đức với sắc thái Á Đông theo ước nguyện từ thời gian ở Pháp trước đây đến nay. Cha vẫn mặc tu phục và để triều thiên vành tóc kiểu Biển Đức. Với giấy giới thiệu của Đức Viện Phụ St Marie ở Pháp, cha Vinh đã trình bày dự án và ý định lập dòng Biển Đức lên các cấp giáo quyền, rồi lặng lẽ chờ đợi. Nhưng trải qua thời gian khá lâu dài, người ta đoán là công việc không xong qua một số dấu chỉ biều hiện bên ngoài như, cha mặc tu phục linh mục triều bình thường, bỏ tu phục Biển Đức và không còn để triều thiên vành tóc trên đầu.

Không ai hay biết những điều gì đã xảy ra giúp giải thích chuỗi diễn biến làm thành lý do khiến dự án đó bất thành. Về phần cha Vinh, ngài vẫn giữ thái độ thanh bình, an nhiên, trầm tĩnh, hoàn toàn im lặng.

Người ta chỉ biết rằng Đan Viện Biển Đức Việt Nam đầu tiên đã được khai sinh ngày 10/6/1940 tại Thiên An Huế. Linh mục Bề Trên là Paul Romain Guillaume (1900+1982), cũng là tu sĩ xuất thân từ Đan Viện la Pierre-qui-vire ở Pháp (1)

Giáo Sư Tiểu Chủng Viện Piô XII Hà Nội

Khi quản nhiệm giáo xứ, đã có biến cố quan hệ giữa cha Nguyễn Văn Vinh, Linh Mục Chính xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội, với tướng De Lattre de Tassigny về việc sắp xếp chỗ ngồi trong nhà thờ Hà Nội trở nên căng thẳng, nhân lễ cầu hồn cho Trung Úy Bernard De Lattre de Tassigny, con trai độc nhất của Tường De Lattre bi tử trận.

Giám Mục Hà Nội Trịnh Như Khuê thấy thế, liền đề nghị cha Vinh thôi giữ chức chính xứ nhà thờ lớn và thuyên chuyển cha về làm giáo sư Tiểu Chủng Viện Piô XII ở số 35 Đường Hoàng Hoa Thám, thủ đô Hà Nội. Cha phụ trách các bộ môn tiếng Anh, tiếng Pháp, Âm Nhạc và Triết, Cha cũng giảng dậy tại Trung học Chu Văn An và Đại Học Hà Nội.

Cha Vinh đến phục vụ tại Tiểu chủng viện Piô XII Hà Nội từ 1950 đến 1954. Năm 1954 chủng viện di cư vào Nam. Linh mục Nguyễn Huy Mai được trao nhiệm vụ hướng dẫn các chủng sinh tiếu chủng viện và đại chủng viện Hà Nội di cư vào Nam cùng với giáo ban liên hệ. Còn cha Nguyễn Văn Vinh vẫn ở lại cùng sống với giáo phận, với giáo dân trong hoàn cảnhdưới chế độ mới của Giáo hội, của Đất Nước.

Giám Mục Trịnh Như Khuê bổ nhiệm cha Nguyễn Văn Vinh làm cha chính, Tổng Đại Diện, giáo phận thay thế cha chính Nguyễn Huy Mai đã vào Nam với chủng sinh. Ở cương vị cha Chính giáo phận, cha Vinh tích cực hướng dẫn giáo dân sống đạo trong bối cảnh chính trị, xã hội mới của đất nước với bao khó khăn nhiều mặt. Giám Mục Trịnh Như Khuê ùy thác cho cha Tổng Đại Diện hâu như mọi việc giao dịnh với giới chức phần đời. Cha Tổng Đại Diện mới rất hăng say lo chu đáo mọi việc trong giáo phận. Ngài tổ chức các lớp giáo lý cho giáo dân, qui tụ thanh niên nam nữ tham gia các sinh hoạt sôi nổi trong giáo xứ. Cha tổ chức các cuộc rước kiệu, các buổi lễ lớn trong Giáo phận, đặc biệt là cuộc rước kiệu Thánh Thể năm 1958 mà nhiều người nay còn nhớ rõ.

Định Mệnh Chuyển Hướng Bắt Đầu Từ Tổ Chức Lễ Giáng Sinh Năm 1958

Cuối năm 1958, để chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh, các thanh niên nam nữ thuộc Giáo xứ Nhà Thờ Lớn tấp nập nhộn nhịp đến tham gia trang hoàng nhà thờ, treo đèn, kết hoa… trước nhà thờ. Trong đám thanh niên lui tới, có một số người lạ mặt đến đòi tham gia việc trang trí, nhưng khi đó Cha chính xứ bấy giờ là linh mục Trịnh Văn Căn tỏ ra không đồng ý để những người lạ mặt đó tham gia. Giáo dân nghe tin, kéo đến trước quảng trường Nhà Thờ lớn rất đông, cũng đồng ý với cha chính xứ, không chịu để cho những người lạ mặt đó lo trang trí chuẩn bị ễ Giáng Sinh. Hai bên giằng co, cãi nhau, tranh giảnh nhau, căng thẳng tột độ. Cha Tổng Đại Diện Nguyễn Văn Vinh xuất hiện can thiệp. Thế là mưu đồ dấu mặt thành công !

Người nghiên cứu nhận thấy chắc chắn có chính quyền được thời cho một số người của mình dấu mặt nhúng tay trà trộn vào và có hành động du côn như ngày nay bản kịch đó mới được diễn lại trong vụ giáo xứ Đồng Mùi ở Giáo Phận Vinh.

Thế là ngay sau lễ giáng sinh năm 1958, hai linh mục Trịnh Văn Căn, Nguyễn Văn Vinh và một số giáo dân được cơ quan an ninh hỏi thăm tới thẩm vấn và được đem ra Tòa công khai xét xử về « Vụ Noel 1958 ».

Đến ngày 31/1/1959 tòa án nhân dân Hà Nội được triệu tập nhanh chóng mở nagy Phiên Tòa công khai phân xử các linh mục Trinh Văn Căn, Nguyễn Văn Vinh và 3 giáo dân.

Một Bản Ản Khuất Tất Đầy Bất Công

Hầu như ai cũng có thể đoán được kết quả của cuộc phân xử được dàn dựng giành phần thắng về phía chính quyền, Tòa đã tuyên án:

Cha Trịnh Văn Căn, người chịu trách nhiệm tổ chức Lễ Noel năm 1958: 12 tháng tù treo để dằn mặt.

Các anh Đáng, Chính và Nhiều tức Tuyên và Đỗ Văn Đức bị phạt cảnh cáo.

Nhưng người chính được nhắm tới để khủng bố tinh thần các vị lãnh đạo giáo hội và cộng đoàn dân Chúa Hà Nội là Linh Mục Tổng Đại Diện Linh mục Nguyễn Văn Vinh vì biến cố đó bị xét xử lãnh 18 tháng tù ngồi với tội danh:

« Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rồi trị an, có tính vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân ».

Từ 18 Tháng Thành 12 Năm Tù, Chết Rục Xương

Từ khi bị bắt giao giải đi từ không ai biết chuyện gì đaả xảy ra cho Linh Mục Nguyễn Văn Vinh. Chính quyền Tòa Án Cộng Sàn cố bịt tất cả những nguồn tin sau đó và bí mật đối xứ với một tù nhân không có quyền tự do kháng cáo một bản án đã được dàn dựng bất công.

Người ta nói rằng ngay khi lãnh nhận bản án 18 tháng tù ngồi, cha Vinh vẫn giữ thái độ an nhiên…không tỏ ra buồn bực, tức giận hay oán hận.

Vẫn nghe nói đầu tiên cha Vinh bị giam giữ ở nhà tù Hỏa lò. Mãi cha mới bị chuyển lên trại tù Yên Bái… để cuối cùng bị kiên giam và biệt giam suốt 12 năm kết thúc đời tù tội oan nghiệt.

Trại Tù Cổng Trời Xã Quyết Tiến, tỉnh Hà Giang

Cha đã trải qua cuộc sống 59 năm nơi trần thế và qua đới tại Trại Tù Cổng Trời. Nhà tù này nổi tiếng là một trại trừng giới có biệt danh « Cổng Trời », thuộc xã Quyết Tiến, huyện Quan Ba, tỉnh Hà Tuyên « Hà Giang – Tuyên Quang », cách biên giới Trung Quốc chừng 10 cây số đường chim bay. Trại Tù ác nghiệt này sở dĩ có tên là Cổng Trời, vì mấy lý do sau:

Tù nhân bị đưa lên trại này thường không có mấy ai hy vọng trở về… mà gửi xác nơi này

Trại này nằm ở độ cao hơn 2000 mét trên mặt biển, cao gầnchạm Trời, âm u lạnh lẽo, chẳng khác gì cảnh âm ti địa ngục, chung sống với ác thần. « Cổng Trời » chính là nơi dành riêng cho các tù nhân có án tử tội.

Cha Nguyễn Văn Vinh vĩnh viễn không về nữa, gửi nắm xương tàn nơi núi rừng xã Quyết Tiến quanh quẩn trại « Cổng Trời ». Mãi một năm sau khi cha lìa đời, Giám Mục Trinh Như Khuê và Linh mục Nguyễn Tùng Cương, « Giám Mục Hải Phòng 1979 », được chính quyền Hà Nội mới đến thông báo cho biết tình trạng của cha chính Vinh:

« Ông Vinh đã chết. Cấm không được làm lễ áo trắng và áo đỏ cho ông Vinh »

Người sau được biết cha GB Nguyễn Văn Vinh chết ngày 18/2/1971. Số mộ: 05; Nghĩa địa số: 02. Khu A, Trại Quyết Tiến, Hà Giang,

Linh mục GB Nguyễn Văn Vinh sống được 59 năm trên trần thế, được chia ra như sau: trong 31 năm làm Linh mục, thì suốt 12 năm cuối đời sống nghiệt ngã xỉ nhục nhưng anh hùng trong cảnh tù đầy cho đến chết.

Sự Nghiệp Linh Mục Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Vinh Với Am Nhạc Công Giáo Viẹt Nam

Sinh Viên Tốt Nghiệp Khoa Âm Nhạc Tại Conservatoire Natioanl De Paris, Pháp.

Năm 1930, như ta biết, Giám Mục Gendreau Đông (1892-1935), Giám mục Giáo Phận Hà Nội gửi mấy đại chủng sinh đầu tiên của Giáo Phận đi du học Pháp. Đó là các thầy Trần Trinh Khiết, Nguyễn Văn Vinh, Đinh Lưu Nhân và Lê Văn Lý. Ở Pháp, riêng thầy Nguyễn Văn Vinh ghi danh học thêm bộ môn âm nhạc tại Nhạc Viện Quốc Gia Pháp và đã tốt nghiệp về Bộ Môn sáng tác, Hòa Âm và chuyên về nhạc khí Violon và Piano. Được biết ngón đàn Violon của cha Vinh thật là tuyệt diệu, quyến rũ lòng người như mê hồn chốn thiên thai:

« Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” (Nguyễn Du: Truyện Kiều)

Bài ca Bất Hủ: De Profundis - Ở Dưới Vực Sâu

Với tinh thần say mê và năng khiều âm nhạc vượt trội hơn người, cha Nguyễn Văn Vinh đã để lại nhiều tác phẩm tôn giáo, đóng góp nhiều vào nền Thánh Nhạc Công giáo Việt Nam. Trong buổi lễ “Cầu Cho Quốc Thái Dân An” do Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Paris tổ chức nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do Hồ Chuí Minh cầm đầu, sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946, cha Vinh sáng tác bản Thánh Ca “Ở Dưới Vực Sâu”, Bài này được trình diễn trong buổi lễ trang trọng rất xúc động, rất sâu lắng tinh thần đạo giáo …


Bài này là bản dịch cha lấy ý từ trong Thánh Vịnh 129, Kinh Thánh Cựu Ước. Theo nhạc sĩ Nguyễn Khắc Xuyên, bài hát này có Điệp Khúc Bốn Bè, uy linh, thấm nhiễm, khoan thai, giàu âm sắc, rung động, cao cả:


Lời độc tấu:

Thân lạy Gia Vi

Đã trở thành đáp ca:


Ở Dưới Vực Sâu, tôi kêu cùng Chúa

Xin Chúa thỉnh nhời. Chúa hãy lắng tai nghe

Tiếng tôi van u u u

Chúa mà chấp tội, thời ai vững được u u u

Song ở nơi Chúa, rộng lòng thứ tha,

để người cung phung u u u u,

Sau những nốt trầm bên dưới thì tới những giọng ca bay bổng, thánh thót:

Tôi đợi Gia Vi, hồn tôi trông đợi

Ở Nhời Người hứa u u u

Quả là hồn tôi, xót mong đợi Chúa

Hơn người tuần phiên, đợi trông rạng sáng.

Tới phiên khúc thìâm sắc thật tuyệt vời, lời ngâm rất Việt Nam, nhưng cũng rất độc đáo (…).Đó là ý trong Thánh Vịnh 129 theo diễn dịch của tác giả:

Hỡi Ít-ra-en, trông đợi Gia Vi

Vì tại Gia Vi, có lòng nhân từ

Cũng ví nơi Chúa, thừa ơn cứu chuộc u u u

Người sẽ thân chính, chuộc Ít-ra-en

Khỏi hết tội tình i i

Lạy Chúa, hãy cho các hồn ấy (cho)

Vào chốn nghỉ ngơi muôn đời
Lại được ánh sáng muôn đời chiếu soi (2).

[còn tiếp ...]