GÓP NHẶT HOA THƠM.
TAM BỘ NHẤT BÁI .

(Ngày 23 Tháng 10 Năm 1973). Hằng Cụ viết:


Hôm nay chúng tôi lạy qua vùng Olema, một làng nhỏ nằm yên tĩnh phía trong bờ biển Point Reyes National. Tôi quên nhắc là trước đây đã có mấy gia đình từ tu viện vẫn thường đến và cúng dường những bữa cơm chay nóng hổi. Như gia đình Quả Ðôn Schweig, Quả Dung Epstein và Quả Tả Linebarger, họ luân phiên đến với chúng tôi, mỗi lần chào mừng gặp gỡ là mỗi lần lý thú bất ngờ.
Trưa nay khi lạy ngang qua vùng đồng bằng hoang vu, có ông lữ hành đơn độc cùng với con chó nhỏ gia nhập vào chuyến bộ hành kỳ hoặc của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi ba người dựng lều dưới gốc cây sồi trên đất tư nhân, cách xa lộ khoảng một phần tư dặm. Chuyện kiếm chỗ dựng lều ở chung quanh vùng nầy vốn không dễ, nhưng Thầy Hằng Do lúc nào cũng tìm được chỗ. Cứ mỗi buổi chiều, khoảng nửa giờ trước khi tôi kết thúc lễ lạy, là Thầy đi trước để tìm chỗ. Hầu như mỗi tấc đất chung quanh vùng nầy đều thuộc về tư nhân, nên việc lựa chọn địa điểm cũng rất găng. Lúc trước Thầy Hằng Do không tự chọn lấy mà chờ tôi đến để quyết định. Bây giờ sau bảy ngày trên đường, Thầy đã thay đổi hoàn toàn. Khi tôi vừa lạy tới nơi thì Thầy đã dựng lều xong, đôi khi nếu điều kiện cho phép, Thầy còn nhóm sẵn lửa lên nữa. Thật là một phần thưởng xứng đáng sau một ngày dài lễ lạy.
Quyết định sự việc là một phương diện quan trọng của sự tăng trưởng về tinh thần. Nhớ có lần ở Chùa Kim Sơn, khi tôi cố làm một cú quyết định, nhưng không ổn gì mấy. Lúc đó vừa mới làm chú Sa Di và còn sót lại bảy chục đồng, tiền tôi làm được khi chưa xuất gia. Số tiền nầy đã làm tôi nôn nóng như muốn đốt lủng túi, nên tôi chỉ muốn tiêu quách nó đi cho rồi. Chuyện xảy ra là vào một hôm khi tôi đang đứng ở hành lang trên lầu ba của Chùa Kim Sơn, cách phòng Sư Phụ khoảng một trăm bước (feet), tay đang mân mê số tiền trong túi áo và cố nghĩ cách sẽ làm gì với số tiền đó. Lúc đầu tôi định sẽ cúng hết vào chùa, nhưng lại có chút ý tưởng tham lam nổi lên:
"Có lẽ nên nhín lại cho mình một chút chớ! ờ, mà nên giữ lại bao nhiêu hở?" Tôi nghĩ thầm như vậy, rồi cả một chuỗi dài ý tưởng suy tính, biện luận về tiền bạc cứ vậy mà nổi lên. Tôi đứng ù lì ra vì không thể quyết định được gì, trong khi tay cầm tiền thì rịn chảy mồ hôi càng lúc càng nhiều. Tôi cảm thấy mình giống như con lừa khùng đang bị điêu đứng giữa hai bó cỏ khô ngon như nhau, rồi nổi cơn lên vì không biết nên ăn bó nào.
Ðứng đó mà nhìn đầu óc mình đang chiến đấu, tôi chợt nghe từ xa tiếng cửa mở từ phòng Sư Phụ. Hình như cánh cửa tâm tôi cũng đang được mở ra. Tôi biết ngay là Sư Phụ đã "rà đúng" ngay tôi rồi.
Sư Phụ có lần nói: "Khi một người có được thần thông về thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm và túc mạng thông, thì người đó sẽ không cần dùng đến truyền hình, radio, máy ra-đa, hay so-na gì hết. Vì tâm người đó đã không còn những vọng tưởng điên đảo, nên có thể thấu đáo một cách nhiệm mầu về tất cả mọi việc xảy ra trong vũ trụ, như mỗi tế bào trong cơ thể sẽ là một máy truyền hình và mỗi sợi tóc sẽ là một nút bấm điều khiển."
Lúc đó tôi nghe Sư Phụ lớn tiếng sai bảo điều gì cho một trong những Thầy người Mỹ đang đứng gần bên. Không đầy một phút, vị Thầy đó chạy dọc theo hành lang về phía tôi, vừa hớn hở ve vẩy tờ giấy mười đồng vừa nói:
"Hằng Cụ! Sư Phụ muốn biết đệ có tiền lẽ để đổi mười đồng không?"
Tôi đứng trân mình một lúc, không nói được lời nào, đầu óc như muốn vỡ tung. Vẫn như đang ngẩn ngơ, tôi lôi ra hai tấm giấy năm đồng và trao cho Thầy.
Thầy nầy nói: "Ủa! Mặt đệ sao giống như vừa mới gặp ma vậy!"
Tôi đáp: "Dạ! Thấy con ma của chính đệ đấy!"
Một vị Thầy có trí huệ sẽ dạy đệ tử theo nhiều trình độ khác nhau, điều nầy khó mà diễn tả được hết. Như về lãnh vực tư tưởng và ngôn ngữ chỉ là một khía cạnh của việc giảng dạy. Phải hiểu rằng một khi tâm thầy trò tương ưng như một, thì tất cả đều là phương tiện của sự giáo hoá. Tiếng đóng cửa bất thình lình vừa đúng lúc với sức đẩy cũng có thể là một cách rất tốt để một người trực nhận và bừng ngộ. Cũng vậy, tiếng điện thoại reo, tiếng ho khan, giọng cười gằn, sự làm lơ, sự quở mắng, lời khen quá đáng, những câu hỏi nan giải và nhiều phương pháp thiện xảo khác. Mặc dầu mới xem qua, chúng như có vẻ tầm thường, nhưng nếu sự việc xảy ra đúng lúc thì nó chính là dịp của mối liên hệ trực tiếp không chướng ngại giữa thầy và trò, thật không thể lầm lẫn được.
Ngày 24 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:
Thời tiết trở nên giá buốt khi chúng tôi lạy từ Olema về hướng bắc, đến một tỉnh lỵ khá lớn Point Reyes Station. Lúc 9 giờ sáng, có ký giả tờ báo địa phương vùng Point Reyes Light đến phỏng vấn, và chúng tôi đã trả lời những gì mình hiểu biết. Có lẽ lúc nầy đã có nhiều người hiểu thêm phần nào về việc chúng tôi đang làm. Có lần ở trong phố, tôi đang lạy dọc theo lề đường, Thầy Hằng Do ở gần bên nghe được câu chuyện đối thoại khi đi ngang qua tiệm bán máy móc (hardware) như sau:
- Ê, Matha! Nhìn kìa! Mình có nên gọi cảnh sát không?
- Thôi đi George à! Mặc kệ ông ta, ổng đâu có làm gì hại đâu!
Sau mười lăm phút dụng công, chúng tôi ra tới ngoại thành thì gặp một nữ cư sĩ Phật giáo tên Katy Powell (Quả Tánh), hiện ở vùng Point Reyes với hai đứa con. Bà ngỏ ý muốn được cùng lễ bái một đoạn đường. Và bà đã lạy theo phía sau cách chúng tôi khoảng hai trăm bước. Lạy được một dặm trên con đường lỏm chỏm đầy sỏi đá thì bà quay trở về nhà. Quả Ðôn Schweig và gia đình mang cơm trưa đến, gồm cơm gạo lức, canh rau, bánh mì, bánh tây và trái cây.
Buổi chiều ông Ben Williams đến cùng với đoàn ký giả San Francisco của đài truyền hình CBS số 5, họ quay phim rất nhiều về cảnh chúng tôi đang lễ lạy dọc theo những dốc đá bờ biển. Tối đến, vừa lúc chúng tôi tìm được một cái chòi bỏ hoang nằm ẩn trong rừng thì cơn mưa bão cũng vừa đổ ập xuống. Tôi mất cả nửa giờ lượm củi khô để nhóm lửa. Giờ đây chúng tôi đang hong khô đồ đạc và nấu nước pha trà.
Ngày 25 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Do viết:
Hôm nay Ưu Bà Tắc Quả Chu (Rounds), chủ tờ báo Napa County Record, đem đến cho vài vật dụng và viết một bản tin ngắn về chuyến bái hương nầy.
Chúng tôi khởi sự lạy từ vịnh Tomales, đến cuối ngày lại tìm được một căn nhà hoang. Nhà nầy dù đã đổ nát, nhưng cũng giúp chúng tôi tránh mưa qua đêm. Tuy nhiên trong đêm tối đen đó, chúng tôi mới nhận ra căn chòi hoang nầy lại là nơi dung chứa bao loài thú rừng như: chồn, chuột, sóc và nhiều loài bận rộn khác đang ở chung với chúng tôi. Trong đêm tối vắng lặng, tiếng kêu vang rền của bọn chúng như càng được khuếch đại thêm. Có lúc tôi cũng cảm thấy thật sợ hãi. Như rủi ở đây có gấu thì sao? Nếu đem tinh thần lý trí ra để hiểu rằng thế gian nầy là hư ảo, đó là một chuyện, còn sống ở cuộc đời mà thật không lo sợ thì lại là một chuyện khác. Tôi thầm niệm Phật và cố giữ tâm an định lại. Rồi một ý tưởng chợt loé lên khỏa lấp sự lo sợ vô lý của tôi: Ồ! Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, thành người giác ngộ mà! Trong cuộc đời của Hòa Thượng Hư Vân, có nhiều trường hợp các thú hoang tìm đến lễ bái Ngài. Vì đức độ của Hòa Thượng như có quyền lực làm khơi dậy cái khả năng hiểu biết tiềm ẩn ngay cả ở những loài cọp, sói và chồn. Ngài giảng dạy cùng ban truyền Tam Quy, rồi thâu nhận chúng làm đệ tử, chẳng thế mà còn dạy cho chúng thêm về những giới luật, đạo đức nữa. Nhờ vậy mà tánh nết chúng thay đổi tốt hơn, bảo đảm sau nầy sẽ được tái sanh về cảnh giới khá hơn và sẽ có nhiều cơ hội hơn để tu hành.
Sau khi ngẫm nghĩ như vậy, thì những tiếng động ban đêm trong chòi đã không làm tôi kinh sợ nữa. Tôi ngủ thiếp đi với ý tưởng vui vui, rằng đang có hàng ngàn vị Phật nho nhỏ tương lai hiện đang vất vả lo tích trữ lương thực cho mùa đông sắp tới.
 Ban dịch Việt Vạn Phật Thành
Reply


Reply
GƯƠNG SOI CHÍN ĐỜI.

Một tối nọ, có một ông lão thần bí mang cốt cách Thần tiên, đi vào cổng phủ nhà họ Trương. Chủ nhân nhà họ Trương là một Hiếu liêm (một chức quan địa phương), gần đây do có biến cố bất ngờ trong gia đình, nên tâm trạng của ông trở nên bi thương đau buồn.
Trương Hiếu liêm luôn cảm thấy cuộc sống không còn ý nghĩa, sau này trở thành một kẻ điên, tinh thần lúc mê lúc tỉnh, khi nổi điên lên thì tinh thần bấn loạn, chỉ trời chỉ đất. Người nhà của ông đã mời rất nhiều danh y đến thăm khám, cũng cho ông uống rất nhiều thuốc rồi mà vẫn không thấy cải thiện.
Ông lão thần bí này bỗng nhiên đến và đi thẳng vào phòng của Trương Hiếu liêm. Trong lúc Trương Hiếu liêm đang cơn điên loạn, ông lão liền đến trước mặt Trương Hiếu liêm, giơ tay lên vẫy một cái thì thoáng chốc Hiếu liêm đã tỉnh lại.
Ông lão nói: “Ngươi muốn sống điên điên khùng khùng như thế này suốt đời sao?”. Nói rồi ông lão bày lên bàn của Trương Hiếu liêm 9 chiếc hộp kính và bảo rằng trong những chiếc hộp này có bảo bối có thể giải trừ phiền muộn. Có vẻ như ông lão này có một sức mạnh thần kỳ nào đó, có thể khiến cho Trương Hiếu liêm ngoan ngoãn làm theo những lời ông nói.
Trương Hiếu liêm thấp thỏm suy nghĩ: “Trong mấy cái hộp này rốt cuộc có chứa gì? Tại sao có thể giải trừ được muộn phiền của mình?”, rồi run rẩy đưa tay ra, chầm chậm đặt tay lên hộp. Trong chiếc hộp kính đã tiết lộ kiếp trước và kiếp này của Trương Hiếu liêm.
Chiếc hộp thứ nhất – Kỷ Hiểu Lam
Trương Hiếu liêm mở chiếc hộp kính thứ nhất, trong hộp xuất hiện một chiếc gương đồng tinh xảo đẹp đẽ, vừa để ý nhìn ngắm, trên gương hiện lên hình ảnh một thư sinh có khí chất phi phàm. Ông ngạc nhiên ngẩng lên nhìn ông lão.
Ông lão nói: “Người đó chính là tiền kiếp của ngươi – Kỷ Hiểu Lam”. Khi Trương Hiếu liêm cúi xuống nhìn lại, thì trên gương như lồng đèn quay vậy, phút chốc đã chiếu lên hình ảnh đặc sắc về cả cuộc đời 81 năm của Kỷ Hiểu Lam.
Vào năm thứ 2 Ung Chính (năm 1724), thời Càn Long, Kỷ Hiểu Lam từng đảm nhận chức Ngự sử suốt 2 nhiệm kỳ, Lễ bộ Thượng thư 3 nhiệm kỳ, đồng thời còn làm Binh bộ Thượng thư trong một thời gian ngắn.
Tuy làm quan to, nhưng Kỷ Hiểu Lam không quên việc sáng tác văn chương, ông đã để lại rất nhiều tác phẩm văn học, và còn từng đảm đương chức quan Tổng biên soạn “Tứ khố toàn thư”. Kỷ Hiểu Lam được gọi là “Đệ nhất đại tài tử” thời nhà Thanh, một bậc thầy bác học một thời, cuối cùng vào năm 1805 ông qua đời khi đang đảm nhận vị trí Đại học sĩ văn phòng Nội các.
Trương Hiếu liêm càng xem càng thấy vui, trong lòng thầm nghĩ: “Thật không ngờ kiếp trước mình lại có thể là nhân vật lớn quan trọng như vậy!”.
Ông lão nói: “Xem xong rồi, thì đóng hộp lại, mở tiếp chiếc thứ hai đi”. Bị ông lão hối thúc, Trương Hiếu liêm luyến tiếc đóng chiếc hộp thứ nhất lại.
Chiếc hộp thứ hai – Tri huyện Lư Khê
Gương đồng chiếu lên hình ảnh một vị quan Tri huyện của huyện Lư Khê tỉnh Hồ Nam. Ông lão nói: “Đây là kiếp tiếp theo của ngươi”.
Xem ra thì kiếp này không đặc sắc như kiếp vừa rồi, chỉ lướt qua vài cảnh đơn giản mà thôi. Trương Hiếu Liêm đóng chiếc hộp thứ hai lại mà không chút bận lòng.
Chiếc hộp thứ ba – Danh kỹ ở kinh đô
Chiếc gương đồng này chiếu ra hình ảnh một cô gái xinh đẹp. Trương Hiếu liêm tỏ vẻ nghi ngờ, ngẩng đầu lên nhìn ông lão tóc trắng.
Ông lão nói: “Đừng nghi ngờ gì cả, đây thật sự là một kiếp tiếp theo của ngươi, cô ta là một danh kỹ ở kinh đô”. Trong lòng Trương Hiếu liêm trộm nghĩ: “Tại sao càng về sau thì cuộc đời lại càng đi xuống vậy chứ?”
Tại sao từ Tri huyện lại trở thành danh kỹ? Chắc hẳn là trong lòng của Trương Hiếu liêm cũng hiểu được phần nào. Người xưa nói “thân làm quan hành việc thiện đức”, nếu như là một vị quan thanh liêm, làm được rất nhiều việc tốt, tạo được phúc cho bá tính, giúp ích cho nhiều người, làm việc thiện như vậy sẽ tích được đức, thì sẽ tích được nhiều phúc phần cho kiếp sau của mình.
Nhưng ngược lại nếu như bị cuốn theo chốn quan trường phức tạp mà trở thành một tên quan tham, rồi làm một số chuyện sai trái, từ đó gây hại cho nhiều người thì sẽ tạo ra nghiệp ác, kiếp sau ắt sẽ phải trả tất cả các nghiệp, không sót một chút nào. Trương Hiếu liêm đoán rằng ở kiếp làm Tri huyện Lư Khê có thể mình đã tạo ra nghiệp ác, thế nên mới có kết cục ở kiếp sau như vậy.
Danh kỹ ở kinh đô được chiếu trong gương hiện lên sinh động với cuộc sống ca múa, phù phiếm tiền bạc hàng đêm ở kỹ viện. Xem đến đây, Trương Hiếu liêm gần như không thể xem tiếp được nữa, lần này không cần ông lão tóc trắng hối thúc, ông cũng đóng chiếc hộp lại một cách thất vọng buồn bã.
Chiếc hộp thứ tư – Kẻ ăn mày
Mở chiếc hộp thứ tư ra xong, Trương Hiếu liêm kinh ngạc đến nỗi trợn mắt há mồm, trên chiếc gương đồng xuất hiện hình ảnh một kẻ ăn mày trong bộ quần áo rách rưới, đang xin ăn.
Trương Hiếu liêm nói: “Chao ôi! Sao lại thảm như vậy! Đến nỗi làm ăn mày cơ à!”. Ông ta rất muốn đóng ngay chiếc hộp lại, không muốn xem tiếp nữa. Nhưng ông lão tóc trắng nói: “Không được! Ngươi nhất định phải xem hết tất cả các cảnh trong đó, không được bỏ sót cảnh nào cả!”
Trương Hiếu liêm đành phải cố chịu đựng xem tiếp, trong lòng thầm nghĩ: “Tuy nói là cuộc đời như vở kịch, nhưng chuyện này thật là kịch tính quá rồi, vừa nãy còn bận rộn với các cuộc yến tiệc chiêu đãi nhộn nhịp cao sang mỗi ngày, sao thoáng một cái lại biến thành một tên ăn mày lang thang đầu đường xó chợ, không một xu dính túi, còn phải dang tay ra ăn xin thì mới có cơm mà ăn. Xem ra thì ả danh kỹ kia đã lừa tiền của không ít đàn ông rồi, nên mới ra nông nỗi như thế này!”
Chiếc hộp thứ năm – Tăng nhân khổ hạnh
Trương Hiếu liêm lúc này quả thực không muốn xem tiếp nữa, nghĩ bụng: “Đã đến nỗi làm ăn mày rồi, vậy thì tiếp theo, sẽ còn thảm đến mức độ nào đây?”. Nhưng không kháng cự lại được sự giục giã liên tục của ông lão tóc trắng, không thể nào không mở tiếp chiếc hộp thứ năm. Sau khi mở ra, Trương Hiếu Liêm thở phào: “Thật may mắn, lần này là làm hòa thượng”.
Ông lão nói: “Không sai, may là kiếp này ngươi làm một hòa thượng khổ hạnh tu luyện, nên đã tiêu trừ được khá nhiều nghiệp nợ mà ngươi đã tạo ra ở các kiếp trước đó. Nếu không thì kiếp này của ngươi có thể sẽ không có được ngày tháng tốt rồi”.
Chiếc hộp thứ sáu – Hiếu liêm của huyện Thiệp tỉnh An Huy
Trương Hiếu liêm mở chiếc hộp thứ 6 ra, hình ảnh được chiếu trong chiếc gương cũng là một Hiếu liêm giống với ông ta bây giờ. Tuy nhiên khi chưa kịp đạt được thành tựu gì thì đã qua đời sớm rồi.
Chiếc hộp thứ bảy, tám – Chết yểu
Mở liên tục chiếc hộp thứ bảy và tám, cảnh tượng xuất hiện trong đó là hai kiếp đứa trẻ chết yểu.
Chiếc hộp thứ 9 – Kiếp sống hiện tại
Cuối cùng thì chỉ còn sót lại một chiếc hộp cuối cùng mà thôi, Trương Hiếu liêm mở hộp ra thì thấy chính mình ở kiếp hiện tại.
Từng cảnh trong quá khứ lần lượt hiện ra trước mắt, nhìn thấy người vợ thân yêu của mình không may qua đời vào 3 năm trước, cảm thấy đau buồn tột độ, thương tâm đến độ đã viết ra bài điếu dày mấy thốn tay.
Lại nhìn thấy thời gian gần đây, do cha mẹ thúc ép mình kết hôn để sinh con nối dõi, để rồi không ngờ rằng đã rước phải một cô vợ dữ dằn ngạo mạn vào nhà, làm cho các thê thiếp trong nhà không dung hòa được, cả nhà cứ thế loạn lên, vì vậy mà bản thân cũng rơi vào trạng thái tinh thần điên loạn.
Cảnh chiếu trong gương không chỉ là những việc xảy ra trong quá khứ của Trương Hiếu liêm, mà còn cho ông ta nhìn thấy tương lai của mình nữa.
Ngủ một giấc tỉnh dậy, cảm thấy như đã trải qua một kiếp người
Trương Hiếu liêm mở mắt ra, thì phát hiện trời đã sáng, vội vàng bước xuống giường, cảm thấy chuyện tối qua kỳ ảo như một giấc mộng, rốt cuộc là ông lão và 9 chiếc gương kia có phải thật không, hay đó chỉ là một giấc mộng kỳ lạ mà thôi? Nhưng nếu là mơ, vậy tại sao lại rõ ràng như thế, cảm giác chạm vào rất thật như thế?
Cho dù là mơ hay thật, Trương Hiếu liêm đã tận mắt nhìn thấy mấy kiếp luân hồi của mình, mỗi một tình tiết đều ly kỳ, hồi hộp. Trương Hiếu liêm cuối cùng cũng hiểu được rằng tất cả những gian truân khó khăn đều là nhân quả thiện ác do tiền kiếp gieo nên.
Ông còn phát hiện những chuyện phiền não đau đớn đến nỗi suy nghĩ không muốn sống tiếp mà mình đã chịu trước đây, trong dòng chảy luân hồi sinh tử, hóa ra đều chỉ là những chuyện vặt vãnh, thế nên ông bỗng chốc thấy phấn chấn vui vẻ cả người.
Một năm sau, Trương Hiếu liêm tham gia kỳ thi Khoa cử, được đề tên vào bảng vàng, và trở thành Tri huyện. Những chuyện sau này về cuộc đời của ông đều trùng khớp hoàn toàn với mọi cảnh chiếu đã được dự báo trong gương.
Trích: Thanh bại loại sao

Nguồn: Nhân Quả
Reply
(2021-07-23, 08:41 AM)Rau Sam Wrote: 8MXX ơi ời, cái gì cũng có nhân duyên. Sự thật thiền Vipassana do Sư Cả Kim Triều mang từ Ấn độ về gieo giống ở chùa Kỳ Viên Washington DC , lúc đó mình cùng cô Bài chủ chùa,(nay đã mất vài năm rồi ) cùng đi coi và cô Bài chọn mua ngôi chùa này và suốt mấy chục năm ở đây ,ngài tổ chức cả trăm khoá thiền, mình chỉ tham dự 3 lần. Và bây giờ chim hạc đã bay về núi, Ngài Cả tài giỏi đã bay về Florida mở 1 truòng thiền Quốc tế ở gần Orlando , diện tích hơn 7 mẩu tây. Mộng ước của Ngài đã thành cho những ngày cuối đời là gieo hạt giống thiền Vipassana rộng rải đến mọi người, nhưng bây giờ mình lại ngã qua Tịnh độ , mặc dù cây Thiền Nguyên Thuỷ mọc gần nhà, kiên cố mấy chục năm vẫn không đủ duyên với mình . Công việc đời quá dầy đặc mà mình là thân nữ không đủ sức lực quán xuyến (cã 2 măt đạo và đời) nên đành để nhân duyên với đạo trôi theo dòng nước. Phải có thì giờ để ngồi thiền mà mình thì đã không có nổi một giờ nào rảnh. Bây giờ thì mình an vui với pháp tu Mật Tịnh, rất thoải mái vì tu ở nhà . Mình rất thích tu 1 mình, nên từ lâu đã chuẩn bị sắp đặt có 1 ngôi  nhà yên tỉnh , có cây cối chung quanh , thanh tịnh như núi rừng và  không cần đi đâu hết, chỉ tu thôi , không tiếp khách, và như vậy đời sống mình nay yên ổn  theo chiều hướng đó. Chúc XX thành công trong việc thực hành Thiền Nguyên Thuỷ.

Hế lô sis Rau Sam. 

XX chưa bao giờ gặp qua Sư Ông Kim Triệu á sis. Nhưng XX có nhiều bạn học pháp TNX của Sư ông,  Quán Thân theo truyền thống của ngài Mahasi. XX thì học thiền theo 

Thiền Sư Goenka á sis.  Hello Mỗi người có một căn duyên á sis. XX cũng chúc mừng sis đã có sự an lạc với pháp Tu Mật Tịnh.  10_point  Kaos-1 Innocent 

XX cảm ơn sis chia sẽ.  Hello Heavy-black-heart4
[Image: with-love-smiley-emoticon.gif]
Reply
NHỮNG ĐIỀU PHÁI NỮ CẦN BIẾT
Hạnh Đoan tuyển dịch
(Bài thuyết giảng của Bác sĩ Bành Hâm 彭鑫)

.
Hôm nay, trong hội trường này tuy quý ông hiện diện tới 80% nhưng tôi vẫn xin giảng về những điều cần tránh (cực kỳ quan trọng dành cho phái nữ). Bởi vì đây là chuyện hệ trọng, liên quan đến sức khỏe và vấn đề sống còn của các cô!
Tôi muốn các cô hiểu rõ để tự bảo vệ tốt cho mình, không vì mù mờ, ngây thơ mà tự làm tổn thương tinh thần lẫn thể xác, vô tình thành tự hủy hoại mình mà không hay!
Quý vị đừng tưởng là chỉ có nam giới phóng túng tình dục mới bị tổn thương tinh thần lẫn sức khỏe, mà cả nữ giới cũng vậy!
Hôm nay tôi xin liệt kê những điều nguy hại để hai phái nam nữ cùng biết, mà tự bảo vệ tốt cho mình.
1. Không nên thủ dâm
Xin cảnh báo với tất cả: Đây là mối nguy hại đầu tiên: Bởi hành vi tự thỏa dục ngoài việc làm tổn thương thận, còn gây hại trực tiếp đến dáng vẻ bên ngoài (nhất là đối với nữ nhân), đồng nghĩa với việc tự hủy dung nhan.
Tôi đã chẩn trị lâm sàng cho nhiều cô. Ngay lúc đó do quá xấu hổ nên họ không dám thố lộ gì, nhưng sau khi về nhà, họ đã viết thư cho tôi, thú nhận rằng: Từ thuở còn rất nhỏ, do sớm tiếp xúc với văn hóa đồi trụy và phim ảnh sex, nên họ đã nhiễm nặng thói xấu này.
Quý vị có biết kết quả tai hại của việc tự thỏa dục sẽ biểu hiện ra ngoài như thế nào không:
Đầu tiên là tóc trên đầu sẽ bị rụng từng nhúm, từng nhúm, mặt nổi đầy mụn độc, mọc nhiều nhất ở quanh cằm vì vùng này biểu trưng cho thận. Ðối với bản thân, đương sự luôn thiếu tự tin, dễ bị đả kích. Do thận khí không đủ, nên nhan sắc u ám. Còn một biểu hiện xấu khác nữa là: Sắc mặt đương sự luôn tái mét, kể từ ấn đường đến vùng quanh miệng, luôn bị nhợt nhạt, mét vàng.
Một khi xuất hiện những biểu hiện trên, chứng tỏ nữ nhân đã bị suy thận. Nếu bạn cho rằng tôi nói sai vì bạn là mỹ nữ và vẫn thấy mình hãy còn rất đẹp. Nhưng tôi khẳng định: Hành vi tự thỏa dục đồng nghĩa với việc “tự hủy dung nhan và phước tướng”... Nếu bạn không tự thỏa dục, bạn sẽ còn đẹp hơn rất nhiều, nhan sắc bạn sẽ rất trong sáng, thanh khiết...
Chúng ta sống, quan trọng nhất là tâm ý, nhưng các cô không chú trọng giữ tâm ý thanh khiết mà chỉ lưu tâm đến dung mạo, song chẳng hề biết rằng hành vi tự thỏa dục ngoài việc làm hại thể xác còn gây tổn thương sâu sắc đến tinh thần. Đây là điều cảnh báo thứ nhất!
2. Không nên phá thai
Tôi đã chứng kiến, gặp qua nhiều cô phá thai dẫn đến phát sinh bệnh phụ khoa rất nhiều. Đa số các cô tuổi từ 25 đến 35. (Vào thập niên 1970 đến 1980 là thời điểm tệ trạng phá thai này phát ồ ạt, tập thể). Khi các cô đến chỗ tôi khám bệnh phụ khoa thì hết 80% đều có bề dày lịch sử phá thai. Hơn nữa, những bệnh phụ khoa liên can đến phá thai, phải nói là vô cùng khó trị.
Hiện nay, Y học cũng cho rằng: Hễ nữ nhân phá thai một lần, thì sẽ hạ thấp 25% khả năng sinh, dưỡng. Suy ra: Nếu phá thai bốn lần thì năng lực này hạ thấp đến tận cùng.
Cho nên, quý vị hãy quan sát, thử nhìn chung quanh xem: Hiện nay đa số các cô mang thai thường bị các chứng: Sẩy thai, đẻ non, thai chết trong bụng… Phải biết nguyên nhân là do đâu?
Thực ra: Do bản thân các cô trước đây đã sống quá vô trách nhiệm, không biết trân quý mạng sống và sức khỏe mình. Do đã có tiền sử phá thai, nên về sau các cô rất dễ mắc các bệnh “Mất khả năng sinh, dưỡng”... như tôi vừa liệt kê ra. Phải gọi là bệnh, vì: Tuy các cô có thể mang thai nhưng rất khó sinh, khó dưỡng, là do phá thai dẫn đến tổn thương sức khỏe, chiêu lấy hậu quả này.
3. Không nên ăn mặc hở hang
Đây là điều cần tránh. Hiện nay đa số các cô vì muốn mình trở nên quyến rũ và hấp dẫn trước nam nhân, nên rất ưa ăn mặc hở hang. Có người ăn vận hầu như khoe hết thân thể ra ngoài. Ða số các cô thích mặc áo hai dây, hoặc kiểu y phục nào mà có thể khoe: Lưng, eo, hông, bụng, rún, đùi v.v… ra ngoài. Cho dù mặc áo hay quần, các cô vẫn luôn khoái cho hở rốn, hở eo!
Nhưng các cô hoàn toàn không biết rằng: Sau lưng và vùng bụng, eo, hông… có rất nhiều yếu huyệt quan trọng, nếu mặc hở như thế, là vô tình phơi hết các yếu huyệt ra ngoài. Vào mùa đông, có cô còn mặc váy ngắn, quần ngắn, khoe đùi ra ngoài (cho dù là có mang vớ, giày đi nữa), thì vẫn khiến toàn bộ đôi chân bị phơi ra đón gió lạnh, đây gọi là: “Chịu giá rét để khoe nét mỹ lệ”… có phải không? Tôi thấy có nữ diễn viên nọ, khi vào dự hội (lãnh giải thưởng phim), cô mặc rất hở hang, xem như từ đầu đến lưng và toàn bộ phần vai, ngực đều phơi hết ra ngoài. Nhưng cô lại ngồi dưới hướng máy lạnh phả tới, khiến cô ắt xì liên tục. Để bớt lạnh, cô phải đưa tay ôm vai, thu mình co ro… Ta hãy xem, trong khi quý ông thể lực mạnh hơn, cũng đồng một cảnh trạng này, nhưng họ lại ăn vận kín đáo, khoác âu phục sang trọng đến hai ba lớp, nên bản thân họ đã an toàn lại càng khỏe thêm…
Còn cô nữ diễn viên này, đang cố phô nét đẹp của mình trong giá lạnh… hiện tại trông cô không thoải mái chút nào, mà cô cũng không biết mình mặc như vậy rất có hại cho sức khỏe, sau này cô sẽ bị các chứng bệnh như tôi đã liệt kê…
Các cô không hề biết ăn vận hở hang như vậy là tự làm tổn thương thân thể mình rất nghiêm trọng. Sở dĩ các cô ăn mặc như thế là vì muốn hấp dẫn người khác phái, muốn khoe hết nét kiều diễm ra…
Cô nào muốn tỏa sức thu hút, khêu gợi, ưa khoe body, thì thường dùng phương thức này để thể hiện. Nhưng các cô không hề biết rằng: Ăn mặc hở hang, lộ thể như thế đã vô tình khiến thân mình bị tổn thương phi thường nghiêm trọng (vì sao tôi khẳng định như vậy? Tôi xin cảnh báo với tư cách là một bác sĩ đã dày dạn kinh nghiệm chẩn khám, có quá trình trị bệnh lâu năm cho quý cô, chứ không phải với tư cách của một người khó tính (ưa bắt bẻ, tùy tiện nói bừa, vô căn cứ).
Đã có một cô gái hỏi tôi:
- Không hiểu sao tôi rất dễ bị cảm, ho?
- Có phải trước đây cô ưa mặc áo hở lưng?
- Đúng thế, tôi rất hay mặc kiểu y phục này.
- Cô mặc vào thời tiết nào?
- Thường là vào mùa hạ…
Phải biết, vào mùa hạ nơi thân thể người dương khí hay bị phát tán ra ngoài, do thân toát mồ hôi nên lỗ chân lông nở to, lúc đó cô lại mặc y phục hở hang (vì tưởng rằng vào mùa hè oi bức sẽ không có vấn đề gì). Nhưng cô quên rằng: Hiện nay trong nhà, đa số chuyên xài máy lạnh, một khi cô bước vào phòng lạnh, thì hàn khí kia sẽ xông thẳng vào người cô, nó xâm nhập bắt đầu từ đâu? Từ huyệt Đại Chùy sau lưng cô (Ðại tức là đại trong lớn nhỏ, Chùy (椎) là dùi của mũi khoan), khí lạnh sẽ vào từ cửa huyệt Đại Chùy đi thẳng vào nội thể cô, trực tiếp gây tổn thương phổi (phế khí). Một người mà phế khí không đủ, tương lai sẽ bị trăm bệnh phát sinh, dẫn đến dễ cảm. Đây là điểm nguy hại đầu tiên do mặc y phục (kiểu hai dây) hở ngực... gây tổn thương thân thể.
Còn điểm nguy hại kế nữa là: Mặc hở rốn!
Đông y chúng ta luôn cho rằng vùng dưới rốn (Đan Điền), là nơi quý báu, nếu mà mặc hở, khoe hai đại huyệt này ra ngoài (chưa kể phía sau lưng còn có huyệt Mệnh Môn cũng bị phơi ra) rất có hại. Vậy có hại như thế nào? - Chính là: Khó mang thai, khó sinh, khó dưỡng. Gọi là hội chứng: “Tử cung bị lạnh”.
Chúng ta đều biết: Tử cung là nơi thai nhi trú ẩn, khi hài nhi ở trong thai mẹ, nơi trú ngụ được xem như là cung điện của bé. Nếu phòng ở bị lạnh, ẩm... thì hài nhi trụ ở đó rất khó kham, khó tồn tại. Do các cô khoái để hở các vùng: Bụng, rốn, eo, lưng… nên đã vô tình làm cho tử cung bị lạnh, sau này sẽ xuất hiện chứng: “Thai chết trong bụng”. Đó là lý do vì sao ngày nay thấy có nhiều cô mang thai ba, bốn tháng (thậm chí được sáu, bảy tháng đi nữa), vẫn hay gặp cảnh: Sẩy thai, đẻ non… Tại sao như vậy? - Vì tử khí, hàn khí - tích tụ trong thân các cô quá nặng, gây trệ huyết, nghẽn mạch… mà thành ra như thế.
Thêm một điều nữa, kiểu y phục khoe đùi, khoe chân ra ngoài, vô tình hứng khí lạnh thổi tới, khiến kinh mạch đồng bế, bị nghẽn. Quan trọng nhất là hai kinh can, thận… bị bế, mà gan, thận của phụ nữ chủ về bào cung, một khi hai kinh mạch này bị bế, thì tương lai các cô sẽ mắc các bệnh phụ khoa như: Tử cung sinh bướu, bụng bị viêm. Còn một chứng trạng nữa, đó là bệnh gì? Xin thưa: Chính là trong tương lai khi các cô quá 45 tuổi, sẽ bị bệnh phong thấp.
Vào năm 2003 tôi giữ nhiệm vụ đón tiếp và phiên dịch, giảng giải cho một nhóm người Âu qua đây xin tìm hiểu khoa Châm Cứu ở nước ta. Sau khi họ quan sát các cụ già nơi đây xong, ông Trưởng đoàn ngạc nhiên phát biểu:
- Ở nước chúng tôi, đa số những người già trên 80 đều phải ngồi xe đẩy. Nhưng không ngờ nơi đây có rất nhiều người già không cần xe đẩy mà lại đi đứng hoạt động vô cùng mạnh khỏe.
Vì sao quý vị biết không? Bởi những văn hóa tuyên dương sự kín đáo, cẩn trọng, lễ nghi... mà Tổ tiên lưu truyền, để lại cho chúng ta... thảy đều là tinh hoa quý báu. Nếu ta biết tôn trọng,  hành theo lời giáo huấn vàng ngọc này, thì thân thể sẽ tự nhiên khang kiện.
Riêng các nước Tây phương, phần đông phụ nữ rất ưa mặc kiểu khoe chân, sau sẽ bị gió lạnh xâm nhập, khiến quá tuổi 45, họ sẽ đi đứng khó khăn, không còn nhanh lẹ, dễ bị các chứng phong thấp, hoặc những bệnh tương tự...
4. Không nên phóng túng tình dục
Điểm nguy hại cuối cùng tôi muốn nhắc nhở các cô là: Không nên phóng túng tình dục (lạm tình), sẽ gây tổn thương tinh lực. Tôi xin nhấn mạnh lần nữa: Nếu các cô phóng túng tình dục, (nghĩa là một phụ nữ mà quan hệ với quá nhiều bạn tình), chuyện này đối với bản thân các cô chính là hành vi tự sát: Tự hủy hoại bản thân mình).
Vì cổ nhân có câu “Tam tinh thành nhất độc, chuyên tổn bất khiết nữ”, là hàm ý gì?
Có nghĩa là: Tinh dịch của ba nam nhân (hợp lại), sẽ biến thành một chất kịch độc gây tổn hại cho những cô (bất khiết) hay quan hệ nam nữ bừa bãi…
Thế thì mức độ tổn thương ra sao và nặng như thế nào?
Các cô sẽ mắc một loại bệnh, mà thời cổ đại gọi là “Sản hồi đầu”, còn nói theo hiện tại thì là: “Bướu cổ tử cung”.
Điều này hiện nay, khoa học cũng đã chứng minh: Tại nước Mỹ, các bác sĩ sau khi đi chẩn khám nơi một nhà giam nọ, bất ngờ phát hiện: Các cô gái hành nghề mại dâm bị chứng “Bướu tử cung” cao hơn gấp năm lần so với những phụ nữ bình thường!
Phần tôi, lúc theo học Y khoa và đang thực tập tại bệnh viện, (hồi đó bên cạnh Y viện là chỗ các gái điếm tụ tập), bọn họ thường vào khám bệnh Phụ khoa. Tôi kinh ngạc khi thấy các cô: Hết 80% đều mắc chứng bệnh này: Cổ tử cung đều bị thối rửa cả. Bệnh phát tiếp theo chứng “Thối rửa cổ tử cung” chính là: “Tử cung bị bướu”. Biến chứng phi thường lớn. Sau bao năm làm trong ngành Y, tôi dám khẳng định: Những người hành nghề mại dâm bị vướng các bệnh nguy hại kia quả thực nhiều vô kể.
Điều này đã chứng minh: Lời cảnh báo của Cổ thánh Tiên hiền là chân thực. Nếu các cô bất tuân hoặc vì không biết mà cứ sống buông thả, phóng túng tình dục... thì chính là đang tự hủy hoại mình: Tự chiêu mời và rước vào những căn bệnh khủng khiếp.
Tôi chỉ cảnh báo thôi, vì nếu tôi biết mà không chịu nói ra thì rất là có lỗi. Nhưng tin hay không, có chịu bảo vệ và yêu quý thân mình hay không, đó là phần của quý v
ị!
[Image: modify_inline.gif]
Reply
TỰ TỬ ĐI VỀ ĐÂU.
NGÀN VẠN LẦN KHÔNG NÊN TỰ SÁT.


TRÍCH BÁO ỨNG HIỆN ĐỜI HẠNH ĐOAN 
.

Tôi là một cư sĩ ăn chay trường, giữ ngũ giới của Phật. Tôi rất ngưỡng mộ lời nguyện: “Địa ngục chẳng trống, thề chưa thành Phật!” của Bồ tát Địa Tạng. Trong “kinh Địa Tạng” phẩm đầu tiên kể Thánh nữ sau khi niệm Phật một ngày đêm liền thấy mình xuống địa ngục, biết được chỗ mẹ thác sinh…
Tôi rất thích và cảm thấy thật an ủi khi đọc đoạn kinh:
“Nếu người có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ tát hiện thân vô biên, nói cho người đó cõi giới mà quyến thuộc của họ đã sanh về. Hoặc trong giấc mộng, Bồ tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để gặp quyến thuộc của mình”
Mỗi khi xem báo đài thấy đăng tin người tự tử nhan nhản, tôi buồn vô hạn. Vì vậy tôi rất khát khao muốn biết những người tự tử, sau khi chết rồi, sẽ đi về đâu?
Trong kinh Địa Tạng phẩm 12 có ghi:
“Những người được nghe danh và thấy hình tượng Bồ tát Địa Tạng rồi chí tâm qui y, có thể mỗi ngày niệm danh Bồ tát ngàn biến, luôn đến ngàn ngày, thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại”.
Vì vậy, tôi đã thực hiện rất nhiều, nhiều hơn lời trong kinh dạy, nghĩa là trường kỳ tụng niệm, lo tu sửa từng tâm niệm và thiết tha lễ bái Bồ tát Địa Tạng suốt một thời gian dài, chỉ nguyện một điều: “Xin cho con khai mở trí tuệ, được nhìn và hiểu thấu suốt, biết rõ người tự tử sẽ đi về đâu?”
Cuối cùng thì ước nguyện này cũng đạt thành. Trong mơ, tôi thực sự được đi đến cõi mà những người tự tử trú ngụ, và minh bạch hết mọi vấn đề. (Trong kinh Phật tả có sáu cõi: Trời, Người, Atu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Vì vậy khi tôi tả về cõi Quỷ, hy vọng bạn không ngạc nhiên) cũng có một số ít người trực tiếp thấy nhưng phần đông người ta không thấy. (Song những người gần mất, khí lực suy tinh thần yếu, cũng rất dễ nhìn thấy người bên cõi âm).
Bây giờ mời chư pháp hữu hãy xem để cùng chia sẻ kinh nghiệm quý giá này với tôi:
“Cõi âm khí rất lạnh, vì vậy khi tiếp xúc hay tham quan cõi âm rất cần có định lực mạnh, thệ nguyện lớn, tinh thần trong sáng. Cõi Quỷ cũng rộng lớn vô biên, được phân thành nhiều khu vực. Bạn đừng cho rằng tự sát là hết khổ, mà chính là mở màn cho thống khổ ngút trời. Cho dù vì tình, vì thiếu nợ, vì đủ lý do v.v… mà bạn muốn nhảy lầu, nhảy sông, uống thuốc độc, cắt mạch máu, cứa cổ, treo cổ v.v… khởi niệm tự tử … đủ cách đủ kiểu… nhưng hễ là tự sát, thì sau khi chết rồi những thống khổ phải nhận lãnh càng thê thảm hơn. Người tự sát, chết rồi linh thức lập tức bị giam cầm, chìm trong khốn khổ triền miên.
Phải biết tự tử có ba tội nặng:
Bất hiếu với song thân.
Tự hủy hoại hình hài, phụ phúc báu hy hữu được làm người, không biết quý trọng mạng sống.
Ngu si vô trí.
Thân ta là do cha mẹ sinh, sống đã không tận hiếu báo ân cho cha mẹ, không làm việc ích đời lợi người, lại ngu muội tự hủy hoại, giết thân minh. Đây là tội cực kỳ nặng. Phải biết thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Kiếp này bạn được mang thân người sao lại khinh thường hủy hoại? Do lỗi phụ bỏ thân người nên bạn sẽ rất khó có được thân người lại. Tự tử lả quá ngu si vậy.
Thí như bạn vì thiếu nợ nên chọn tự tử, thì phải hiểu là đời này nợ chưa trả xong, thì sau vẫn phải trả nhiều hơn, hiện tại còn gánh thêm đại tội tự tử nữa, đây gọi là khổ chồng khổ! Phải biết người tự sát chết rồi, sẽ lãnh khổ báo rất thảm. Những người tự tử sau khi chết rồi sẽ không ngừng diễn lại động tác tự sát đó.
Thí như anh A vào 2 giờ chiều nhảy lầu tự sát, sau khi chết đi, linh thức anh sẽ bị giam cầm thọ khổ, và cứ loanh quanh ở vùng mình tự sát. Hằng ngày hễ đến đúng giờ khắc đã tự tử, thì anh sẽ trở lại đúng địa điểm, ngôi lầu đó… mà diễn cảnh tự sát một lần. Ngày nào cũng phải diễn như vậy, diễn mãi động tác hủy thân đó cho đến khi tuổi thọ hết. Ví dụ như tuổi thọ anh được định là sống tới 70, nhưng vào năm 40 anh tự tử, thì sau khi chết rồi, ngày nào anh cũng phải diễn lại cảnh tự sát này, có nghĩa là anh phải… nhảy lầu suốt 30 năm, cho đến lúc dương thọ tận.
Hơn nữa hằng ngày, những tư tưởng cực kỳ thống khổ của giây phút tự sát, cộng thêm đau đớn trên thân cũng đồng loạt tái hiện lại, hoàn toàn giống y. Nghĩa là mỗi ngày, anh phải tái lập và thể nghiệm thảm cảnh tự sát một lần, ngoài thời gian này thì anh bị nhốt tại khu “Phạm nhân tự sát” để thọ hình phạt. Trong khu “vong tự sát” trú ngụ này phi thường u ám, rất ẩm ướt và hôi thối. Trong đây, tâm ai cũng ôm đầy oán hận, tiếng rên khóc bi thương, thở than không ngừng…Nơi này không có nhà hay giường, không truyền hình, yến tiệc, không thức ăn v.v… gì cũng đều không tất! Chỉ có thống khổ và khóc lóc mà thôi.
Tôi tiến đến một phòng giam, bên trong chứa đầy vong tự sát, oán khí xung thiên, phi thường khó chịu, nhìn mặt người nào cũng rất thương tâm. Tôi bước đến gần một vong tự sát, thấy toàn thân anh ướt nhẹp, mắt lõm sâu. Tôi chào:
– Bạn ổn không?
Anh nghiêng đầu dòm tôi, rồi hỏi:
– Ngài là ai?
– Tôi là người bình thường, phát nguyện đến cõi âm để biết những người tự sát chết rồi cảnh giới của họ sẽ ra sao?
Anh ta nói:
– Cần chi phải hỏi, nhìn là đủ biết tôi quá thống khổ rồi! Tôi không biết nói sao đề diễn tả tâm tình hiện tại của mình, chỉ có thể nói là tôi… KHỐ! RÁT KHỔ!… mà thôi!
– Vì sao toàn thân anh ướt hết vậy?
– Do tôi nhảy sông tự tử…
– Nhưng tại sao anh tự sát?
– Tôi không muốn kể ra đâu, xin đừng có hỏi nữa!
– Được rồi! Chào anh!
Tôi bước đến chỗ khác. Thấy trước mặt mình là một nữ nhân, liền hỏi:
– Này, vì sao bạn lại ở nơi này?
Chị ta đáp:
– Ngài có thể giúp tôi tìm một đứa bé không? Cầu xin ngài đấy.
Tôi hỏi:
– Con của chị ư?
– Đúng vậy. Tôi cho con gái tự sát theo mình, nhưng giờ không biết bé ở đâu? Bởi sau khi tự sát xong thì tôi liền bị áp giải vào đây, còn đứa con thì không thể tìm ra bóng dáng nó. Tôi rất đau khổ…
– Con gái chị hiện được ở một khu vực khác, chờ đi đầu thai. Bởi vì chị tự ý đoạn mạng con trẻ hoàn toàn không có sự đồng ý của nó nên tội chị rất nặng. Do con chị còn bé ngây thơ chưa biết gì nên không bị tính vào tội tự sát, vì vậy mả nó được đưa đến nơi khác.
– Thế ư, không ai nói cho tôi biết điều này, tôi van cầu ngài, xin hãy dẫn tôi đi gặp nó có được không?
Tôi không thể dẫn chị đi, vì đây là cõi âm, có quy luật riêng của cõi âm. Chị nhất định phải chịu quả báo tự sát tại đây, đó là luật!
Chị ta bật khóc thảm thiết….
Tôi đi tiếp một quãng, băng qua một ngọn núi, thì đến một nơi khác. Trong đây là một khu biệt giam các vong tự sát khác nữa. Tôi gặp một người đàn ông nơi bụng có đường tét dài và sâu, máu me ràn rụa… Tôi hỏi:
– Tiên sinh, bụng ông bị sao thế?
Ông đáp:
– Đây là vết thương do tôi dùng dao rạch bụng mình, vì vợ tôi ngoại tình theo trai… nên tôi rất hận “bả”!
– Dù vậy, anh cũng không nên tự giết mình!
– Ban đầu thì tôi giết bả, sau đó mới tự sát! Tôi chết rồi thì bị nhốt tại đây. Hằng ngày đều phải về lại nhà tái diễn lại cảnh tự sát. Tôi đau đớn và khổ lắm, khổ hết chỗ nói…
Tôi than:
– Ôi! Lại là vì tình! Tiên sinh ơi, tự sát là tội rất nặng, ông có thề niệm Phật không?
Rồi tôi dạy ông niệm: “Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát!” và bảo:
– Ông nhất định phải niệm, sẽ giảm nhẹ tội báo! Còn nữa, ông phải sám hối, vì giết người là quá sai, do ông đã giết người lại còn tự sát, tội càng nặng hơn! Xin hãy nghe tôi khuyên, nhất định phải ráng niệm Phật nhé!
Chỉ thấy ông ta gật gật đầu, không nói gì.
Trước mắt tôi lại hiện từng vong linh lòng đầy hận oán rất đáng sợ, có vong toàn thân toàn thân đầy máu, tuôn chảy không ngừng. Tận mắt chứng kiến những cảnh này rồi, tôi kinh hãi vô cùng.
Người thế gian đa số cho rằng tự tử lả chấm dứt mọi thống khổ, họ không biết rằng “tự sát chính là mở màn cho thống khổ ngoài sức tưởng bắt đầu”. Thực quá ngu khờ dại dột! Hèn chi mà thường nghe kể những nơi có người tự tử hay xảy ra cảnh “vong náo” dù không thấy họ.
Bởi vì nếu như nhà, phòng nào đó… trước đây từng có người tự tử qua, thì vong linh tự sát ngày nào cũng phải về diễn lại động tác tự tử này, thế nên nếu phòng nhà đó không có “quỷ náo” thì mới là chuyện lạ! Vì vậy mà ta thường nghe kể “chỗ người tự tử thường hay có tiếng khóc rên rĩ… dù không thấy người. Đó là do vong tự sát phải về diễn cảnh tự tử, bị chìm trong tâm niệm bi thương lúc hủy thân…
Phần tôi dù nương nguyện lực Bồ tát Địa Tạng Vương được chứng kiến cõi âm, nhưng thú thực nếu như tôi phải đến ngụ ở nhà hay phòng có người tự sát, chắc chắn tôi sẽ rất khổ tâm, vì sao ư? Vì hằng ngày mắt tôi luôn thấy rõ cảnh quỷ về diễn lại màn tự sát, lại còn nhìn rõ thảm cảnh họ chết ra sao. Thế thì làm sao mà an ổn thư thái được? Giáo lý Phật có những bản kinh siêu độ rất haỵ và kỳ diệu. Song bạn không thể ỷ lại vào ai đó cầu siêu cho mình trong khi bản thân bạn không chịu tu. Nếu tâm bạn vẫn đầy ác ý, tà độc… thì vô phương cứu. Vì cảnh sẽ tương ưng với tâm, tâm tốt chiêu cảnh tốt! Siêu độ là giúp bạn phát thiện tâm, biết ăn năn sửa sai. Bạn cần phải tự hoàn thiện bản thân trong lúc sống, đừng ỷ lại vào người, mới là tốt nhất.
Trong kiếp nhân sinh, ai sống mà không có não phiền, không có khổ đau? Người giữ thân khẩu ý thiện lành thì tâm sẽ hằng an vui. Khổ là là do bởi mình từng gieo nhân ác. Khi phải trả quả ác, phải bồi đền nợ cũ thì đâu ai thoải mái dễ chịu? Ngàn vạn lần xin bạn không nên khởi niệm tự sát. Phải hiểu: tự sát không giải quyết được vấn đề, chết rồi càng thống khổ hơn! Nếu cho rằng sống ở thế gian là khổ, nhưng bạn không hề biết kẻ chết vì tự sát sẽ bị nhốt ở khu vực chứa vong tự sát. Người ngu si cứ tưởng chết là hết, là phủi hết muộn phiền, chấm dứt mọi sầu lo… Hoàn toàn không biết rằng sau khi tự sát rồi thì thống khổ mới bắt đầu ập đến, cường độ mãnh liệt gấp vạn bội lần cái khổ lúc còn sống. Còn nữa, sao không biết xót thương, tội cho thân quyến bạn sẽ buồn đau biết bao trước hành vi ngu muội này của bạn? Bạn không nên đầy mình vào tuyệt lộ.
Người tự sát, sau khi chết và thọ xong quả báo tự sát rồi thì phải đi đến các địa ngục lớn nhỏ thọ hình tiếp, y như trong kinh Địa Tạng từng mô tả… cho đến khi nghiệp tận họ mới có thể thoát ra và đầu thai, nhưng sinh vào đâu, việc này còn tùy thuộc vào nghiệp tạo của họ.
Phật tử Thiếu Hoa
LND: Tôi đẫ đắn đo cân nhắc rất nhiều, cuối cùng thì quyết định dịch bài này, mong có thể cảnh tỉnh những người muốn tự sát.
Trong cuộc sống, cho dù khổ đến tột cùng hay tuyệt vọng đến mấy, xin bạn đừng bao giờ có ý muốn tự tử. Vì khổ hiện tại không chịu được thì cái khổ sau khi chết còn khốc liệt hơn! Xin nhớ: Tự tử không phải là kết thúc khổ đau, mà là mở màn cho thống khổ bất tận… Bởi sống trong đời này ai cũng có khổ đau, chứ không riêng gì bạn, thậm chí có những thống khổ còn tày đình hơn nhưng có người vẫn không trốn chạy mà chấp nhận đối diện, can đảm bước qua để trưởng thành và lớn mạnh… (bởi vực thẳm là nấc thang cho bậc anh tài). Thân ta dù chết, nhưng tâm vẫn hoạt động…Giết mình cũng là mang tội sát sinh: phạm vào tội thập ác không được đầu thai. Thân xác có chết thì cảm giác lạnh, nóng, đói khát, uất phiền… vẫn còn đeo theo, không ngừng hành hạ tâm thức. Tâm bạn nếu nhiều ác niệm thì chết phải sa đọa, đi xuống… Tâm bạn nếu đầy từ ái thiện lành thì chết sẽ thăng lên cao. Giống như khi bạn vừa bố thí, phóng sinh hoặc làm việc tốt giúp ai xong, đêm về sẽ ngủ rất ngon, tâm tư lâng lâng hạnh phúc… đó là cảnh giới của tâm thiện lành. Vì vậy những kẻ cướp của giết người, những kẻ làm toàn việc ác, chắc chắn giấc ngủ không bao giờ yên và luôn gặp ác mộng, dù luật pháp chưa trừng trị…
Khi khởi ý muốn tự tử, bạn đừng để niệm này khởi tiếp (đừng ôm mãi niềm sầu đau vô ích vì nó sẽ xúi bạn hành động dại dột) hãy cố gắng lèo lái tâm nghĩ lành, trong sáng. Thực ra không có tuyệt lộ hay đường cùng, chỉ có tâm bạn tưởng là vậy mà thôi. “Gieo nhân ngọt sẽ hưởng quả ngọt”. Vì vậy, lối thoát ở chính nơi tâm của bạn chứ không thuộc về người hay ngoại cảnh. Hãy tự mở đường thoát và không nên dìm mình vào bế tắc. Khổ vui do mình tạo, muốn được vui thì phải dứt ác hành thiện – hằng luôn giữ thân khẩu ý thiện lành, vì tâm bạn thiện được bao nhiêu thì bạn sẽ hưởng an vui bấy nhiêu, ở đây không lý luận để đối chất, muốn biết đúng sai thì chỉ có thực hành, thể nghiệm và tự rút ra đáp án cho chính mình.
Nam mô a di đà phật.
Reply
Thư của Cố Ni sư Như Thuỷ gởi em gái , Sư cô Hạnh Đoan.

THĂM VẠN PHẬT THÁNH THÀNH
Lá 20 - 11/5/2005 8:58 tối

Heo Ú ơi!
7 giờ sáng hôm qua chị cùng Ni chúng Đức Viên đi thăm Vạn Phật Thánh Thành, tới 11 giờ đêm mới về tới chùa. Mệt muốn xí lắc léo. Đi xe máy lạnh, chủ nhà lái, ngồi ghế thượng hạng, vậy mà mệt muốn đứt hơi.
Nếu chị trẻ lại khoảng ngoài hai mươi, nếu mình được đi tự do, chắc chị sẽ dắt em vô đây tu cho… biết. Chùa có 70 tòa nhà, mỗi tòa là một ngôi biệt thự hẳn hoi, khuôn viên chùa là 50 ha, nghĩa là lớn gấp mười lần khu Thường Chiếu hồi xưa.
Trước đây, chỗ này là nhà thương điên của Mỹ, do bị nghẹt mạch, không có nước để xài, nên chính phủ Mỹ bỏ hoang, dời mấy ông điên đi hết. Họ bán lại cho ngài Tuyên Hóa với giá rẻ rề. Sư mua xong, về ở, cầm gậy chỉ chỗ đào giếng, kỹ sư theo đó đóng giếng và có nước xài liền (y chang chuyện lục tổ). Chị có đến chiêm bái xá lợi ngài Tuyên Hóa, có thấy cây gậy ngoằn ngoèo của ngài (nhưng không dám ăn cắp) hi hi.
Chùa này ăn cơm gạo lứt nấu với nhãn nhục, thức ăn không dùng bột ngọt, nhưng ăn khá khoái khẩu. Ở đây tăng chúng phải đắp y suốt ngày, y màu nâu chứ không phải màu vàng. Từ sáng sớm, Đức Viên đã rủ chị đi chơi phải đem y theo. Tưởng đâu là đem y theo lễ Phật, không ngờ đem theo để… kiếm ăn. Đắp y vô mới vào trai đường ăn cơm. Cuối bữa ăn, người ta còn phát hạt dẻ, kẹo, bánh mì xăng quýt cộng bơ, mứt… trái cây như cam bưởi, xá lị… Nói chung là thức ăn không tốn tiền, nhưng ngon vô kể. Chị đang ăn thả giàn thì bắt gặp đôi liễn chữ Tàu, đại ý: Người xứng đáng, một đấu vàng cũng tiêu. Không xứng đáng ăn, một giọt nước cũng không tiêu.
Có lẽ vì tạp niệm nên sáng nay chị mệt nhừ tử chăng? Nhà cao cửa rộng, thức ăn dồi dào, không khí trong lành, nhưng phải tuổi hai mươi mình mới tu nổi, vì nơi đây tu sĩ không được nằm ngủ, phải ngồi mà ngủ, lại ăn mỗi ngày có một bữa thôi. Phải cỡ tuổi em hồi 16-17 lúc vô Viên Chiếu đó mới đủ sức khỏe và nhiệt tình để theo nổi.
Ăn xong, kéo nhau vào Vô Ngôn Đường, nơi thờ xá lợi Phật và ngài Tuyên Hóa. Cùng đi có một sư bà người Tàu, trên 80 tuổi. Sư bà trưởng chúng nơi đây là ni sư Hằng Trì, một người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi cao đàng hoàng. Họ phỏng vấn chị, vì mỗi người phải nói về chuyện tu hành của mình. Chị kể sơ thôi. Khi họ hỏi: Ðiều gì quan trọng nhất của tu sĩ? Chị Đáp: Sự an lạc. Họ hỏi: Làm sao để đạt được? Chị đáp: Thực hành lời Phật dạy. Hỏi: Điều gì khó khăn nhất của tu sĩ? Chị đáp: Sự chân thật.
Chưa xong cuộc phỏng vấn, chị tháo chạy ra ngoài vì … mắc tiểu. Ở đây khí lạnh, không ra mồ hôi nên mình mắc tiểu hoài. Nhà tiểu lại ở xa, muốn đi phải đi… xe hơi. Chị đi lạc, sắp chết vì bể bụng thì gặp người dắt vô toa lét của ký túc xá nữ sinh để… xả nước. Nơi đây cũng có trường tiểu học, và trung học dạy theo chương trình đời, có cả đại học nữa. Nghĩa là có đủ hết những thứ mà dân nghèo cỡ mình mơ ước.
Qua đây ai cũng rủ chị ở lại luôn. Chị giữ đúng chủ trương: Hãy đứng lên khi tách trà chưa nguội. Vì đi chơi, làm khách khoái hơn làm chủ. Chủ nhà sẽ bị đủ thứ phiền toái. Làm khách, chỉ cỡi ngựa xem hoa rồi đi!
Các chùa ở đây không có các chú tiểu nhỏ. Chị hỏi lý do? Mấy cô đáp: Con nít dưới 18 tuổi, mình nuôi nó, lỡ mà nó có vẻ mặt buồn rầu, khi đi học cô giáo hỏi, biết nó ăn chay và bị thức khuya dậy sớm, bị dạy dỗ nghiêm khắc, làm nó buồn thì người ta sẽ bắt mình ra tòa, vì tội ngược đãi con nít.
Cha mẹ cũng không có quyền đánh con, con nít mà thưa là mất quyền làm cha mẹ, họ sẽ đem con mình giao cho cha mẹ khác … nuôi (Biết vậy, hồi nhỏ mình qua Mỹ ở há!)
7 giờ tối sư bà người Tàu đãi chị một bữa ăn ở phố tàu tại San Francisco, bữa ăn không dưới mười món, ăn xong, người nào cũng mệt muốn chết vì … no. Chị không biết tiền ăn bao nhiêu cho hai bàn mười bốn người. Nhưng thấy tiền boa tới 45 Usd lận! (Này, có muốn qua đây làm… bồi bàn không?)...
Tụi chị về đến chùa là 11 giờ đêm. Nội lái xe đi, về cũng mất 7 tiếng, đó là chạy trên 100km/giờ. Chị có chụp hình, bữa nào rảnh sẽ gởi cho em.
Chị tính đi ngủ thì có phone từ Canada gọi, mời chị qua đó. Chị đành hẹn kỳ sau. Mất một giờ nghe điện thoại và đi ngủ lúc 12 giờ (vinh hoa phú quý cũng có cái giá của nó chớ!)...
Thôi chị stop đây. Nghe oai quá há? Chị muốn bệnh trở lại vì hôm qua ăn quá nhiều. Ngày mai chị phải đi Nam Cali bằng xe bus (xa cỡ Sài Gòn ra Đà Nẵng vậy). Đi cho biết chứ ngồi máy bay hoài ngán lắm. Đi máy bay độ một tiếng, nhưng ra phi trường ngồi chờ xét hành lý cũng hơn một tiếng, chán lắm.
Mai kể tiếp - Chị Ba.


[Image: modify_inline.gif]



[Image: facebook.png] 
Reply
CHUYỆN CÁI BÁNH DÂU
Tiếp theo 9
Ngày 31 Tháng 10 Năm 1973. Hằng Cụ viết:

"Mọi sự đều OK!" không có nghĩa là một tay cầm lon bia (beer) đi lang thang trên bãi biển, còn tay kia với cuốn kinh Kim Cang. Ngày nay có rất nhiều người sống như những con lợn ngu dốt mà cứ nghĩ là mình đã giác ngộ rồi. Người thật sự am tường đạo Phật đều nên biết rằng pháp quan trọng độc nhất là dứt bỏ lòng tham dục.
Chính đức Phật đã dạy: "Ý thức cứu cánh nhất, chỉ đơn giản là không có lòng tham dục."
Sư Phụ ở Kim Sơn cũng đã dạy như vậy, nhưng không có mấy ai thực lòng muốn nghe, huống chi nói đến việc thực hành theo đó. Chẳng hạn như tôi là một thí dụ điển hình. Câu cuối bài thơ mà Sư Phụ vừa mới cho tôi có nhắn nhủ đến bánh dâu (berry pie), mà tôi sẽ kể câu chuyện cái bánh đó như sau.
Khi mới đến Kim Sơn, tôi mang theo bao nhiêu là thói hư tật xấu, mà tôi đã từng thâu thập suốt hai mươi lăm năm qua. Tệ nhất là mười năm hút sách và sáu năm nhậu nhẹt. Bây giờ vào chùa lại là nơi có kỷ luật nghiêm khắc, buộc tôi phải dứt bỏ những tật xấu đó. Và tôi đã dẹp đi được tật hút sách, nghiện rượu. Nhưng sức mạnh lòng tham của tôi lại quá nặng nề, nên nó bắt đầu chuyển sang lãnh vực ăn uống. Tôi nhanh trí nghĩ rằng: Ít ra để tạm thời thỏa mãn lòng tham thì mình phải ăn cho thật nhiều vào. Vì theo pháp thực hành ngày ăn một bữa, nên tôi buộc phải vận dụng hết tinh thần năng lực vào bữa ăn trưa với thời gian giới hạn bốn mươi phút. Cho nên nếu chuyển đưa hết tất cả những tập khí xấu nầy vào việc tọa thiền và làm việc thiện, thì quả là một thử thách quá xá cở đối với tôi.
Thế nên đã có nhiều lúc vì không tự chủ, kiềm chế được mình nên tôi thường trốn ra ngoài, và đi thẳng đến tiệm bánh gần bên để mua cả bao bánh ngọt. Tôi nghĩ rằng chỉ như vậy mới có thể giải tỏa được hết những phiền não của mình. Chuyện xảy ra như sau:
Một hôm tôi lén ra ngoài mua bánh, sau khi đã ăn gần hết cả bao, chỉ chừa lại một cái bánh berry pie vì bụng không còn chỗ nào chứa thêm được nữa. Tôi cẩn thận dấu cái bánh đó trong áo khoác, rồi trở về tu viện. Bấy giờ ở Kim Sơn, mọi người đều tuân theo quy luật là không ăn sau giờ ngọ, chỉ có vài người ăn thêm bữa sáng, còn hầu hết đều tu theo lối khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một bữa ngọ thôi. Hôm đó trong suốt buổi tọa thiền chiều, tôi bắt đầu cảm thấy đói bụng, nên tư tưởng cứ nhắm hướng về cái bánh đó. Rồi suốt buổi tối giờ nghe kinh, trong khi Sư Phụ đang thao thao giảng pháp, thì đầu óc tôi chỉ còn biết đến hình ảnh của cái bánh đó thôi. Tôi định bụng là sau giờ nghe pháp, sẽ xơi quách nó cho rồi, còn luật lệ khỉ gì chớ!
Ðến khoảng mười giờ đêm, khi mọi người đã đi ngủ, tôi nhẹ nhàng chuồn ra cửa sổ nhà tắm trên lầu ba, cẩn thận đóng cửa lại rồi leo thang lên nóc nhà (thang nầy phòng bị khi có hỏa hoạn). Tôi mở gói bánh và nhe răng cắn một cái dòn ngọt lịm, rồi nhai ngấu nghiến những trái dâu (berry) chín đỏ. Trong lòng thầm nghĩ: "Chúa ơi! Nếu đây không phải là Niết Bàn thì còn là cái gì nữa chứ?"
Nhưng ngay lúc đó, tôi chợt nhìn về phía cầu thang treo, bổng thấy có người đang leo lên. Tôi hốt hoảng đứng thừ ra trong khi cái miệng đang ngốn đầy bánh. Nơi nầy thiệt tình là chẳng có lối nào để tôi trốn thoát cả. Người đó lại chính là Sư Phụ! Tôi đứng bất động một lúc, đầu óc như muốn nổ tung. Rồi tôi bắt đầu đi vòng quanh trên sân thượng, ra vẻ như đang tập trung trong pháp quán thiền hành. Và Sư Phụ cũng làm vậy, cũng đi vòng vòng như đang tập trung quán tưởng thiền hành, nhưng lại đi ngược chiều với tôi. Chúng tôi đi ngang qua nhau hai lần mà không ai nhìn đến ai cả. Ðến vòng thứ ba khi tôi nhìn lên thì thấy Sư Phụ nhăn răng cười trừ như con mèo Cheshire. Rồi Ngài chỉ nói bốn chữ: "Sao nó thế nào?"
Thật là quá xá đủ rồi! Tôi biết là không có cách gì hơn chỉ ngoại trừ do những năng lực thần thông, ông Già mới có thể biết rằng tôi đang ở trên đây thôi. Sau đó vì tức cười quá nên chúng tôi đồng phát cười vang, cười luôn cho tất cả sự vật của thế giới vô tận nầy. Rồi Sư Phụ bỏ đi để tôi ăn hết cái bánh.
Ðó là câu chuyện về cái bánh berry mà Sư Phụ rất thích thú, nên thường bảo tôi kể lại. Bây giờ Ngài lại treo cái bánh khác trước mắt tôi, và chắc chắn chúng tôi sẽ đạt đến mục đích.
(Eric Ưeber) Quả Hồi lái chiếc Van nhỏ đến, cũng vừa lúc chúng tôi bắt đầu trở ra đường để lạy. Anh ta đem đến mấy đôi giầy cao ống (boot) và một chiếc xe kéo có thể xếp lại, của Sư Phụ gởi cho sư Hằng Do (loại xe nầy người Hoa thường dùng để đi chợ). Tôi lạy được bốn dặm, qua khỏi thành phố Bodega Bay thì chất độc cây Sồi lại bắt đầu hành tôi ngứa ngáy. Ðến chiều tối, khắp người tôi sưng phù lên, có chỗ nứt nẻ và chảy mủ. Chúng tôi phải ngừng lạy và ngồi xuống bên vệ đường. Trời lại bắt đầu mưa.
May thay Quả Ðôn Schweig đến, thấy tôi đang trong tình trạng như vậy nên đề nghị đưa chúng tôi về nhà ở Inverness để dưỡng bệnh một thời gian. Ðến nơi tôi liền đi tắm và xức thuốc khắp toàn thân. Hình như chứng bệnh nầy trông như càng lúc càng tệ hơn trước khi nó chịu bình phục. Hiện chúng tôi đang đóng đô trong nhà xe của Quả Ðôn. Từ biển Thái Bình Dương đang thổi đến một trận bão khốc liệt mà tôi chưa từng thấy qua.

Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thành.
Bình: Tôi thích nhất chỗ Hằng Cụ lén ra ngoài mua “bao” bánh ăn, còn dấu cái bánh trong áo khoác để đêm trèo lên… sân thượng lầu ba ăn vụng. Khi… “nhe răng cắn một cái dòn ngọt lịm, rồi nhai ngấu nghiến những trái dâu (berry) chín đỏ. Trong lòng ông thầm nghĩ: "Chúa ơi! Nếu đây không phải là Niết Bàn thì còn là cái gì nữa chứ?"
Câu này hay tuyệt! Nếu là tôi, tôi cũng nói vậy.😂
Tôi ái mộ đạo tràng ngài Tuyên Hoá, nhưng đúng như lời chị Thuỷ nói: Thuở trẻ trung mười sáu mình mới tu theo nổi, chứ bây giờ già, sức tàn lực kiệt, tu ngủ ngồi, ăn ít… theo không nổi đâu!
Thôi thì hẹn khi đủ duyên, tôi sẽ tu… cho thỏa mộng, còn bây giờ khi ăn cái gì đó ngon… tôi cũng muốn reo lên: “Oh! Thiên đường trong tầm tay!”
Mà có vị thầy thần thông, đệ tử làm gì, nghĩ gì ngài cũng biết thì đúng là không tu đàng hoàng không được, nên rất dễ tiến bộ!
Hạnh Đoan

[Image: modify_inline.gif]
Reply
TÂM TÌNH RIÊNG (1)

(Dành riêng cho tri âm - tác giả:  Hạnh Đoan)



Hồi đó tôi khoảng 20, đi tu được bốn năm, chưa học kinh LĂNG NGHIÊM, cũng không biết rành về công năng chú LĂNG NGHIÊM. Có lần ghé nhà bà Phật tử quen thì bà hàng xóm gần bên chạy qua, quýnh quáng nói con bà bị sốt, bà cầm chú Lăng Nghiêm (ép nhựa loại khoảng 10cm ngày xưa hay in cho người đeo) và nói bây giờ cho con bà đeo để cứu nó được không?
Lúc đó tôi bật cười bảo: Con sốt thì đưa đi bệnh viện khám chứ!
Bà vâng vâng dạ dạ rồi chạy về. Riêng tôi tự thấy mình thông minh thực tế vô kể. Còn thầm phê bình bà này sao mê tín dị đoan quá mức.

Có lần thấy tôi lẩm nhẩm học thuộc chú Lăng Nghiêm, chị Ba tôi ngăn cản, bảo:
- Dẹp đi không cần học.
Vì thời khoá tụng tông môn tôi không có chú Lăng Nghiêm. Thế là tôi ngoan ngoãn vâng lời không buồn để mắt đến chú nữa.
Xem như từ 1974 đến cuối đời mình, chị Ba tôi không hề tụng chú Lăng Nghiêm. Còn tôi, từ 1975 đến 2016, tôi không hề để ý, quan tâm gì đến chú Lăng Nghiêm.

Năm 2000 tình cờ tôi đọc mấy cuốn khai thị của ngài Tuyên Hoá, thấy ngài ca ngợi chú và khuyên nên tụng chú Lăng Nghiêm, tôi cũng không quan tâm. Do người ta dịch về ngài tâng bốc nhiều và xài những câu vô tình khiến ngài biến thành tự khoe làm tôi nghi ngờ không mỹ cảm. Sau này tôi mới biết mình lầm. Khi nghe Phùng Phùng kể ngài không đích thân tự viết tác phẩm nào, chỉ là đệ tử ngài nghe giảng ghi chép lại. Bản thân ngài rất khiêm cung, không hay nói về mình và cũng không kể khoe chuyện lạ thần thông. Tôi nghĩ: Hoá ra do đám đệ tử tôn sùng thầy quá, khoe kể cho thầy nhiều quá thành ra vô tình hại thầy.
Vạn Phật thành có đoàn phiên dịch tiếng Việt hùng hậu, nhưng họ lại dịch Ma Đăng Già nữ thành là: Con gái Ma Đăng Già. Câu chuyện Ma đăng Già và A Nan ai cũng biết nhưng từ dịch nhầm lẫn của họ đã khiến tôi hoài nghi về các văn bản dịch.
Bên ngài Tịnh Không thì Trưởng giả tử họ dịch là trưởng giả. Ngài Tịnh không lý luận: “Tử” chỉ là tiếng đệm, giống như Khổng tử, Lão tử vậy thôi.
Còn  bên Vạn Phật thành dịch Trưởng giả tử là ‘con trưởng giả “, tôi không biết ai dịch đúng ai dịch sai. Vì họ đồng là dân Tàu hết mà dịch khác nhau quá, thì hạng dân Việt rặt như tôi biết đường đâu mà nắm cho chuẩn đây?
Do vậy tôi không hoàn toàn tin các bản dịch bên Vạn Phật Thành. Tôi có ái mộ ngài Tuyên Hoá, nhưng ngài vẫn còn bị nghi ngờ, tôi chưa thể hoàn toàn tin tưởng.
Cho đến khi tôi dịch các tác phẩm của Quả Khanh, Phùng Phùng ( Hai vị này đều có thiên nhãn, có thần thông).Phùng Phùng chỉ cần nhìn thoáng qua một người là biết họ tu thực giả, công phu ra sao, những gì họ hành xử sẽ hiện rõ trước mắt ông như cuộn phim đang trình chiếu.
Do vậy Phùng Phùng không dễ quy phục ai, không dễ quỳ hay khấu đầu trước ai.

Lần đầu tiên gặp ngài Tuyên Hoá, phùng phùng tuy có cao ngạo nhưng đã sớm thần phục và hết mực tôn kính ngài.
Phùng phùng không để ý chú Lăng Nghiêm, nhưng khi ngài Tuyên Hoá đưa chú bảo đem về trì, phùng phùng vì tôn kính ngài mà đón nhận và trì tụng. Tuy không thường xuyên, bữa tụng bữa không. Nhưng rồi Phùng Phùng đã nhận ra tầm quý giá của chú khi ông nhìn bằng thiên nhãn.
Quả Khanh có thần thông rất cao. Ông nhìn thấu các cõi và biết rõ tiền kiếp mỗi người khi gặp họ.
Khi gặp ngài Tuyên Hoá ông tôn kính ngài như Phật sống, thì đủ biết ngài Tuyên Hoá không phải nhân vật tầm thường. Ông biết ngài Tuyên Hoá là hoá thân Bồ tát Quan Âm, nhưng sau khi ngài Tuyên Hoá viên tịch rồi ông mới thố lộ trong các tác phẩm mình.
Nhờ Phùng Phùng và quả khanh mà tôi hết nghi ngài Tuyên Hoá. Nhưng tôi vẫn chưa đoái hoài gì đến chú Lăng Nghiêm, vẫn không thèm tụng.

Cho đến khi chị Ba tôi mất, tôi muốn biết giây phút kề cận cái chết, nhìn rõ hai cõi âm dương, chị sẽ nói câu gì? Và câu nói trước khi tắt hơi của chị làm tôi chấn động:
HÃY TỤNG CHÚ LĂNG NGHIÊM CHO CHỊ!
Lúc đó mọi người thường tụng kinh Địa Tạng, Kinh Đi Đà để hộ niệm cho chị. Những ngày cuối bệnh nặng chị vui vẻ đồng ý. Nhưng giây phút sắp tắt hơi chị thúc hối trong trạng thái quýnh quáng, gấp rút: HÃY TỤNG CHÚ LĂNG NGHIÊM CHO CHỊ!
Và đại chúng tụng tới biến thứ sáu, chị ra đi an lành.
Bình sinh chị giảng pháp hay thu hút, nên “ giựt “ khá nhiều đệ tử các môn phái!
Mà thế gian là cõi đầy hiểm ác. Vì tình, vì danh, vì tiền, vì lợi... người ta sẵn sàng thư yếm hại nhau.
Chị Ba tôi trước đây không tin chuyện thư yếm, chị nói đó là sản phẩm tưởng tượng của con người, không thực có.

Đến khi chị nói mình bị thư yếm, tôi không tin, tôi nghĩ đây là chị tưởng tượng thôi.
Nhưng chị nói đau thiệt, đau đứt ruột gan, ăn gì chị cũng sợ, cầm điện thoại nghe cũng bị sưng má, sưng mặt... chị sợ cả tôi và tất cả đồ dùng, thực phẩm... của tôi, vì e rằng người ta sẽ mượn tay tôi ám hại chị.
Cả một trời đau khổ ập tới, trùng trùng thống khổ bủa vây, những cái khổ không thể nói bằng lời mà chỉ có im lặng tự nếm.
Do chị không hề trì chú nên không có gì bảo vệ. Còn tôi, dù không trì Lăng Nghiêm nhưng từ nhỏ tôi luôn trì chú Uế Tích đủ số để tự bảo vệ mình. Tôi nghĩ đây là thói quen của kiếp trước lưu lại.
Khi chị Ba yêu cầu tụng Chú Lăng Nghiêm hộ niệm chị, tôi nhìn bầu trời cực kỳ đẹp đầy mây ngũ sắc kéo về lòng rất thích.
Tôi bắt đầu quan tâm và quyết định tụng Chú Lăng Nghiêm, nguyện lấy đây làm công phu tự hộ niệm, tự chuẩn bị cho mình trước khi cái chết đến.
Hồi xưa tôi nghĩ chú Lăng Nghiêm chỉ là mấy chữ viết trên giấy trắng, có gì lạ lẫm linh diệu đâu?
Nhưng khi nghe Phùng Phùng nhìn bằng thiên nhãn phân tích, tôi choáng người (tiếc rằng bản phân tích quý giá này tôi làm lạc mất nên không thể dịch cho quý vị đọc)
Phùng Phùng nói: “Mỗi câu mỗi chữ trong chú Lăng Nghiêm quý như châu ngọc, có công năng mạnh hơn ngàn tia laser, có thể quét sạch mọi tà ma lẫn độc khí uế trược, giúp làm sạch không khí , khiến thanh tịnh hoá bầu trời, năng lực chú Lăng Nghiêm vi diệu không thể nghĩ lường, yêu ma quỷ quái đều khiếp sợ... công đức vô cùng”
Sau này khi gặp các ca sĩ, doanh nhân, đại gia... kể là mình bị thư yếm, tôi thường khuyên họ trì Chú Lăng Nghiêm để tự chữa, kết quả rất khả quan.
Nhưng viết đến đây dài lắm rồi, tôi phải ngưng. Nếu bạn còn thích nghe, tôi sẽ viết tiếp vào dịp khác. Nếu bạn không thích, tôi sẽ không kể nữa [Image: 1f602.png][Image: 1f64f_1f3fb.png]
Reply


Reply
TRUYỆN NHÂN QUẢ - TRẬN ĐỘNG ĐẤT TỨ XUYÊN - TAI HỌA GIÁNG XUỐNG ĐỀU CÓ LÝ DO.

Ngày 12/9/1850, lúc đó là thời nhà Thanh, tại phủ Ninh Viễn, tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc đã xảy ra một sự kiện. Khi đó vốn là mùa thu, mặc dù vào ban đêm trời luôn mưa, nhưng vào ban ngày Ngưu Thụ Mai – Tri phủ Ninh Viễn vẫn cảm thấy oi bức, tim bỗng dưng đập nhanh một cách khó hiểu.
Do đó ông quyết định đi dạo một vòng trên phố, hàng xóm thấy ông trên đường, ai nấy đều chào hỏi Ngưu tri phủ, thậm chí có người còn hét lên “Ngưu thanh thiên”, nghe vậy Ngưu Thụ Mai cảm thấy rất ngượng ngùng.
Hồi tưởng lại bản thân đã làm quan bao nhiêu năm, trung thực, thanh liêm, có thể nói là không thẹn với lương tâm, trên không phụ với trời, dưới không phụ lòng nhân. Trước đây ở mảnh đất Ninh Viễn này trộm cướp hoành hành, triều đình nhiều năm đau đầu nhức óc. Nhưng kể từ khi Ngưu Thụ Mai đến đây, lưu manh trộm cắp đều dần dần biến mất, từ đó người dân có thể an cư lạc nghiệp.
Sau khi đi dạo trở về nhà, Ngưu Thụ Mai đến thư phòng để kiểm tra bài tập của con trai, thấy con trai mình đã tiến bộ không ít, trong lòng cũng cảm thấy tốt hơn một chút.
Nhưng hôm nay, bầu trời dường như có gì đó đặc biệt khác với mọi ngày. Dù đã chuyển sang đêm nhưng bầu trời dường như không muốn tối đi, ở phía chân trời luôn có một vầng sáng mờ mờ. Ngưu Thụ Mai nằm ở trên giường trằn trọc đến tận nửa đêm. Khi bên ngoài cửa sổ dần dần trút xuống cơn mưa, nghe tiếng mưa rơi ông mới mơ màng chìm vào giấc ngủ.
Đang mơ màng thì ông chợt nghe thấy dưới gầm giường vang lên âm thanh giống như tiếng sấm sét. Ngưu Thụ Mai giật mình ngồi bật dậy, còn chưa kịp bước xuống mặt đất, toàn bộ ngôi nhà liền giống như bị ném vào nồi nước sôi, cả trên cả dưới lắc lư, nghiêng ngả. Ngưu Thụ Mai ngay lập tức bị hất vào góc tường, cửa sổ rơi xuống đập trúng đầu ông khiến ông bất tỉnh.
Ngày hôm đó, một trận động đất 7,5 độ richter đã xảy ra tại phủ Ninh Viễn. Theo sử sách ghi lại, vào thời điểm đó, toàn bộ tường thành của phủ Ninh Viễn đều sụp đổ. Nhà cửa khắp nơi gần như bị san bằng, nhà sập đổ đầy đường, hoàn toàn không thể phân biệt được đường phố nằm ở vị trí nào nữa.
Trời vừa mới đầu thu, hầu như ngày nào cũng mưa, những người chạy tới cứu trợ nhìn thấy trước mắt là một cảnh đổ nát tan hoang, cộng thêm mưa lạnh rơi khắp trời không biết nên bắt đầu cứu từ đâu. Khu vực nội thành, ngoại thành, thôn xã có hơn 27.000 hộ dân chịu ảnh hưởng, hơn 135.000 nạn nhân và hơn 26.000 ngôi nhà ngói, nhà tranh bị sập.
Như câu tục ngữ “Trong hoạn nạn mới thấy chân tình”, điều đầu tiên mà người dân nghĩ đến chính là sự an nguy của Tri phủ Ngưu Thụ Mai. Một nhóm người mang theo cuốc và xẻng chạy xô tới sân sau của nha môn Ninh Viễn, vừa gọi tên Ngưu Thụ Mai vừa tìm kiếm khắp nơi.
Sau đó ở một góc tường họ đã tìm thấy ông. Mặc dù Ngưu tri phủ đã bị chôn vùi trong đống đổ nát, nhưng người chỉ bị phủ bởi cành cây, bụi bặm, và bị thương một chút ở gót chân, ngoài ra không có gì đáng ngại. Người dân chứng kiến điều này đều cảm thấy ông trời thật có mắt, đã che chở cho vị quan thanh liêm này.
Theo lời đề nghị của Ngưu tri phủ, mọi người bắt đầu đào lại, kết quả là đào được con trai của ông đã chết do va đập. Nhìn thấy vô số cảnh người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, Ngưu tri phủ cũng không có thời gian để bi thương. Ông nhanh chóng tổ chức cứu hộ và khập khiễng đi cùng người dân tìm kiếm những người còn sống sót.
Không chỉ nỗi đau mất con, mà những người thân, bạn bè, hàng xóm của ông hôm qua còn gặp trên đường phố giờ đã không tỉnh dậy được nữa. Những giọng nói và dáng điệu quen thuộc kia đã bị vùi lấp trong đống đổ nát, Âm Dương tách biệt từ đây. Nói rằng người ác tạo nghiệp sẽ đưa đến thảm họa, chẳng lẽ ở thành Ninh Viễn không còn người tốt hay sao, mà lại gặp một tai họa bi thảm như vậy?
Ngưu tri phủ cùng đám người cứu viện đi tìm kiếm khắp nơi, sau đó khi đi đến trước miếu Thành Hoàng thì thấy miếu vẫn đứng sừng sững trong đống đổ nát, bên cạnh còn có những viên kẹo mạch nha mà người dân mang tới cúng bái hôm qua.
Ngưu tri phủ thấy thế thì vô cùng tức giận nói: Người dân mỗi ngày đều cúng bái Thành Hoàng một cách cẩn thận, đầy đủ. Vậy tại sao khi thiên tai xảy ra Thành Hoàng chỉ bảo vệ bản thân, mà bỏ mặc sống chết của người dân?
Ngưu tri phủ là một người thẳng thắn, ngay cả khi Thành Hoàng làm không đúng ông cũng vẫn phải nói ra. Nhưng lời này là đang nói với ai? Chính là nói với một vị Thần!
Ngưu tri phủ về đến nhà liền viết một bức thư gửi Thành Hoàng, đại ý là trỉ trích Thần Thành Hoàng hưởng hương hỏa của vạn dân thiên hạ, nhưng lại không che chở cho dân chúng trước đại nạn. Thiện ác hữu báo là Thiên lý, nhưng khắp nơi đều bị san bằng, thì có đạo lý chăng?
“Không nói đến những người khác, nhưng Ngưu Thụ Mai đây làm quan không thẹn với lương tâm, tại sao tôi lại phải chịu nỗi đau người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh này. Nếu nói tôi một đời tích đức hành thiện nên được phúc báo, thì tại sao vẫn còn bị thương ở chân? Chẳng lẽ sự giám sát của thần linh cũng xuất hiện sơ suất, trời cao không phải mười phần công bằng hay sao?”
Ngưu tri phủ viết thư xong thì đến miếu Thành Hoàng thắp hương rồi tự tay đốt bức thư trong lòng vẫn không khỏi bất bình.
Đêm hôm đó, ông mơ thấy hai người ăn mặc như sai dịch đến đón mình, nói rằng: Thần Thành Hoàng mời Ngưu đại nhân đến. Sau khi đến nơi, ông hành lễ với thần Thành Hoàng xong liền ngồi xuống.
Thần Thành Hoàng nói với ông: “Lời văn của Ngưu đại nhân thật đúng là lẽ thẳng khí hùng. Mặc dù Đại nhân là quan phụ mẫu thương dân như con, nhưng vẫn không thể hiểu rõ được đạo của quỷ Thần. Vì vậy hôm nay mời đại nhân đến cùng nói chuyện để giải mối nghi trong lòng, cũng là tỏ rõ với thế nhân, lấy đó là lời cảnh báo về sau.”
Thần Thành Hoàng nói tiếp: “Phàm là thiên tai, dịch bệnh, tai ương đều là do nghiệp mà con người tích lũy mà ra, tuyệt không phải ngẫu nhiên. Đây còn gọi là ‘cộng nghiệp’.”
“Lần thiên tai động đất này, cõi Thần dưới âm phủ đã điều tra, ghi chép và xác minh trong suốt 50 năm rồi, phàm là người không phải gánh chịu tai họa đều đã được chuyển đi nơi khác hoặc đi ra khỏi nhà.”
“Nếu người ở nơi khác gần đây gây ra tội ác thì cũng khiến họ phải đến Ninh Viễn để công tác hoặc là chuyển nhà đến đây. Cho dù có thay đổi tạm thời cũng không sơ xuất trong việc giám sát hay trừng phạt không chính đáng.”
Ngưu tri phủ thắc mắc: “Cho dù như vậy, thì chẳng lẽ trong thành cũng không có một người thiện hay sao? Ta và con trai cũng gặp phải nạn này sao?”
Thần Thành Hoàng nói: “Còn có ba gia đình khác, quả thực khó có thể dời đi trong thời gian ngắn, nhưng hiện tại đều bình an vô sự. Một người là một phụ nữ tiết hạnh ở khu phố nọ, ba đời ở góa nuôi dưỡng con nhỏ, ngày thường luôn cẩn trọng đối nhân xử thế, tuân thủ đạo đức lễ nghi.”
“Hai là thầy thuốc, trước nay đều không bán thuốc giả, ai nhờ đi xem bệnh, dù đêm khuya trời mưa, đường lầy lội cũng lặp tức đi ngay, hết lòng cứu chữa cho bệnh nhân.”
“Ngôi nhà còn lại có bà lão bán bánh ở cùng đứa cháu nhỏ cũng thường thương người già, xót người nghèo, toàn bộ đều bình an vô sự, Đại nhân trở về nghe ngóng sẽ rõ thôi.”
“Về phần con trai của Đại nhân, cậu ta không thể thoát được tai họa này là vì kiếp trước đã tạo nghiệp quá nặng. Ngưu đại nhân vốn cũng ở trong kiếp số, nhưng vì làm quan thanh liêm, chính trực nên được khoan hồng, chỉ bị thương ở gót chân, tuy nhiên không thể tránh khỏi nỗi đau mất con.”
“Nói tóm lại, Trời có thưởng có phạt, cẩn thận tỉ mỉ, quyết không thiên vị. Những người chịu tai họa đều không bao giờ là vô duyên vô cớ. Tiên sinh hãy nỗ lực làm quan thật tốt, tương lai sẽ được thăng đến chức Án sát sứ.”
Ngưu Thụ Mai nghe Thần Thành Hoàng giảng giải một phen thì trong lòng cũng minh bạch, vội vàng tạ lỗi với Thần Thành Hoàng.
Cáo từ Thành Hoàng xong thì ông cũng tỉnh dậy, hóa ra đây chỉ là giấc mơ. Nhưng cảnh tượng trong mơ hiện lên rõ mồn một trước mắt, và những lời của Thần Thành Hoàng trong giấc mơ còn văng vẳng bên tai.
Ngày hôm sau, trong khi đi kiểm tra tình hình sau thảm họa trong thành ông âm thầm nghe ngóng xem những gì nghe được trong giấc mơ có thật hay không.
Sau trận động đất, các xác chết đã được dọn dẹp sạch sẽ. Trong đó phát hiện có hơn 3.000 thi thể cả nam lẫn nữ chết trong khi còn ôm nhau, tuy nhiên trong đó chỉ có 800 thi thể là các cặp vợ chồng hợp pháp, đứng đắn. Có thể thấy rằng đạo đức nhân luân của người dân phủ Ninh Viễn khi ấy đã trở nên bại hoại, và việc gian dâm và quan hệ bất chính đã trở nên phổ biến.
Chứng kiến sự việc này, Ngưu Thụ Mai nghĩ trong đầu: Vạn ác dâm vi thủ (Trong tất cả những điều xấu ác thì việc gian dâm là đứng đầu), thực sự không có tai họa nào là vô duyên vô cớ cả.
Sau đó, quả nhiên ông tìm được người góa phụ thủ tiết ba đời, vị thầy thuốc tế thế cứu người, không bán thuốc giả như Thần Hoàng Thành nói. Bọn họ đều bình an vô sự. Chỉ là, căn nhà bọn họ ở quá thấp bé, bị nhà hai bên che khuất nên không dễ tìm ra.
Còn bà cụ bán bánh thì sau nhiều ngày tra tìm, người ta đã tìm thấy bà ở một góc nhà không bị sập hoàn toàn vì được xà nhà chống đỡ. Qua hỏi thăm, bà cụ nói rằng ở đây thường kinh doanh buôn bán, hễ gặp người già yếu, tàn tật không đủ tiền thì dù họ có thiếu tiền bà cũng bán bánh cho, thỉnh thoảng còn bố thí.
Một, hai ngày trước khi xảy ra động đất, không hiểu sao lượng người mua bánh của bà tăng lên một cách lạ thường, cung không đủ cầu, do đó bà liền cùng cháu nhỏ thức đêm làm bánh đề phòng thiếu.
Sau trận động đất, hai bà cháu bị đè dưới ngôi nhà sập 3 ngày, vì không cách nào thoát ra được nên đã ăn bánh để lót dạ, không ngờ bây giờ lại có thể nhìn thấy bầu trời lần nữa. Hai bà cháu bán bánh cũng không hề bị thương tích gì cả.
Đến đây những lời của Thần Thành Hoàng toàn bộ đã ứng nghiệm khiến Ngưu Thụ Mai không khỏi kinh ngạc. Từ đó về sau ông không mảy may hoài nghi về nhân quả báo ứng, càng cố gắng làm tốt chức vụ của mình. Sau này quả nhiên được thăng làm quan án sát tỉnh Tứ Xuyên đúng như lời Thần Thành Hoàng.
Người dân ai nấy đều cảm thán cho rằng, Ngưu tri phủ có thể bình an vượt qua kiếp nạn này thật ra chính là ông trời cố ý an bài để một vị quan thanh liêm như vậy ở lại giáo hóa dân chúng.
Phàm là trời cao giáng tội, không có tai họa nào là vô duyên vô cớ. Thiên tai nhân họa trên quy mô lớn là một loại quả báo “cộng nghiệp” (ác nghiệp tích tụ). Thực ra điều này cũng không có gì là khó hiểu, giống như câu chuyện về những người trong gia tộc của Đức Phật Thích Ca bị diệt vong. Nhìn bề ngoài, chẳng lẽ tất cả mọi người trong gia tộc của Phật Thích Ca đều không có phúc sao? Tại sao lại bị diệt tộc?
Khi nhìn lại kiếp trước, thì những người này trước đây đều là người trong cùng một thôn. Một năm nọ gặp phải hạn hán khắc nghiệt, dân làng vì để sống sót nêu đều vớt cá từ ao cá đầu làng lên ăn. Điều này đã tạo thành oán duyên sinh tử giữa những người trong thôn với ao cá.
Vào đời Thích Ca Mâu Ni, dân làng đều chuyển sinh thành người trong dòng tộc Thích Ca, còn cá trong ao trải qua lục đạo luân hồi đã chuyển sinh thành quân lính của Lưu Ly Vương. Vì vậy, dưới mệnh lệnh của Lưu Ly Vương, họ đã tàn sát tộc người Thích Ca, đây chính là nhân quả báo ứng. Mà tộc người Thích Ca cùng nhau tạo nghiệp sát sinh, nên họ phải cùng nhau hoàn trả vào một thời điểm nhất định.
Nhân quả vô tình nhưng không mảy mai sai sót dù chỉ một tơ hào. Như nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20 Albert Einstein đã từ nói "Đấng hóa công không chơi trò xúc xắc". Nghĩa là mọi sự việc xảy ra trên đời này không có gì là ngẫu nhiên, tất cả đều do nhân quả sắp đặt. Biết được điều đó để chúng ta biết sống theo lẽ phải, gieo nhân lành thì tương lai mới mong có kết quả tốt đẹp.
Nam Mô A Di Đà Phật
Reply