2022-03-07, 02:30 PM
(tt và hết) Sư Toại Khanh Giảng Ngũ Uẩn (2-2)
https://www.toaikhanh.com/videotext.php?vid=99YIf2mPXwY&abt=Ng%C5%A9+u%E1%BA%A9n
Chúng ta nhắc lại quan điểm của Phật giáo là không có ‘tôi’ không có ‘ta’, không có ông A bà B, nghe. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về từng cái buồn vui, tốt xấu của mình; và trong từng mỗi đơn vị phù du ngắn ngủi này nó đều có giá trị nhất định của nó. Xin thưa với đại chúng như vậy. Chớ các vị đừng nghĩ rằng cái buồn vui của tôi, tôi là một cá nhân, chuyện buồn vui của tôi không thành vấn đề. Không phải như vậy. Tinh thần vô ngã của Phật giáo không phải đề nghị chúng ta sống buông xuôi mọi thứ, bởi vì nói vô ngã là không có tôi, không có hắn, tôi muốn làm gì tôi làm. Không phải!
Mà tinh thần vô ngã của Đạo Phật dạy chúng ta một điều: chính vì vô ngã, anh hãy tỏ ra dễ thương hơn, bởi anh đâu có gì để giữ nữa, anh đâu có gì đâu cho nên hãy tốt hơn.
Giáo lý Ngũ uẩn của Phật giáo nói lên tinh thần vô ngã, nhưng quan điểm nhận thức rất tích cực chớ không phải tiêu cực. Khi mọi người biết xả kỷ thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Đêm nay chúng ta đã học về cái gọi là con người một cách sâu hơn, chuyên môn hơn.
Tôi không biết đại chúng có còn muốn nghe tôi nữa hay không. Nếu mình có thể nghỉ sớm hơn, thượng tọa trụ trì muốn nhắc nhở chúng ta gì đó.
Vấn đáp 1:
- Bạch thầy cho con hỏi một câu: Phật Thích Ca khi ngài sanh ra đời làm sao mà bước 7 bước trên hoa sen?
Sư Giác Nguyên Trả Lời:
- Bác muốn nghe câu trả lời riêng hay luôn bây giờ ạ?
- Dạ, con muốn nghe thầy trả lời luôn.
- Dạ, tôi xin thưa với bác và cả đại chúng, chúng tôi nghĩ có những cái không đơn giản giải thích bằng cách hiểu máy móc hoặc lý tính được. Ở đây chúng tôi không cố gắng buộc bác phải tin đó là sự thật nhưng xin thưa với bác là có những vấn đề mà chúng ta phải có thời gian cần thiết để xác định. Chẳng hạn từ nhỏ tới lớn tôi đâu có làm gì ra tiền, tôi đi tu mà. Nhưng có lần chúng tôi có tiền, tôi nhớ có chừng 4 triệu mà dám bỏ ra ba triệu rưỡi vào một công trình xây dựng ở VN, xin thưa đại chúng hoan hỷ như vậy. Bốn triệu mà bỏ ra ba triệu rưỡi! Chúng tôi tưởng vậy là lắm rồi. Nhưng về sau tôi biết là có những người họ bỏ ra một trăm mấy chục triệu để cất cái chùa. Theo đại chúng thì số tiền lớn nhứt mà trong 30 năm trời nay tôi bỏ ra (chỉ có ba triệu rưỡi thôi) mà tôi có nên tin rằng có ai đó dám bỏ ra một trăm mấy chục triệu để cất chùa hay không. Theo đại chúng tôi có nên tin không. Hay là tôi chỉ dựa vào số tiền nhỏ của tôi mà không tin? – Tin chớ, tuy tôi chỉ có ba triệu rưỡi thôi. Nhưng tôi tin vì tôi nghĩ đơn giản khả năng mình đến đâu thì mình làm đến đó.
Một điều hết sức đặc biệt trong Phật Pháp, vấn đề hết sức tinh tế nữa là ‘tiền nào của nấy’. Chúng ta tu học, chúng ta luôn luôn sợ mất, sợ bị trầy móng tay, sợ bị con mình nó khóc, sợ vợ mình buồn chúng ta không dám bỏ ra cái gì của mình hết. Cho nên những gì chúng ta đạt được rất là ít ỏi. Chính từ chỗ chúng ta được quá ít chúng ta không tin vào cuộc đời.
Còn Phật thì sao?
– Ngài làm những điều khó làm. Ngài cho ra những điều khó cho và Ngài thực hiện những điều khó thực hiện. Cho nên khi thành Phật rồi Ngài làm được những điều khó làm và hiểu được những điều khó hiểu. Ngài có được những cái rất khó có. Máu mà Ngài bỏ ra nhiều hơn nước trong bốn biển đại dương. Mắt Ngài bỏ ra nhiều hơn sao trên trời để mà bố thí chúng sanh kể từ lúc lập nguyện Bồ tát. Thịt của Ngài móc Ngài cắt cho chúng sanh ăn còn nhiều hơn thịt đất đá trên địa cầu. Với những công đức vô lượng như vậy thì Ngài sở hữu, thành tựu, sở đắc, thủ đắc những cái mà người như chúng ta khó mà tưởng tượng được.
Chúng ta một ngày một buổi đầu hôm sớm mai hiểu được Phật Pháp rồi làm phước được năm ba triệu trong vài cơ sở từ thiện, cúng chùa đôi ba lần, đôi ba lần nghe Pháp; với chừng đó công phu chúng ta rất khó mà tưởng tượng. Với những người ở VN, một năm học ba lớp, nhưng cũng có những người một lớp học ba năm. Chẳng hạn như thượng tọa trụ trì, anh em ruột với chúng tôi, cùng cha cùng mẹ với chúng tôi. Ngày xưa đi học, các vị còn nhớ ngày xưa đi học ở VN cuốn Toán lớp 5 rất là khó. Thượng tọa học xong cuốn đó để thi vào Đệ thất . Đậu xong xuôi thì còn thiếu tuổi. Ông già tôi phải làm đơn xin thêm tuổi cho thượng tọa vào. Vậy mà tôi xin thưa với đại chúng tôi nói thật, không hề tán thêm. Tôi rất dốt toán, tôi học cái gì cũng cà lớt cà lớt, chắc đại chúng không ngờ rằng tôi chưa hề có bằng cấp nào. Tôi đọc sách được tôi dịch sách được, tạm được mà tôi chưa hề có bằng cấp gì hết. Vì sao? Vì mỗi người có phước riêng. Tôi không thể lấy cái đầu tôi đem so với khả năng trí óc của thượng tọa được, mà đó là anh em ruột với nhau. Mà những gì tôi có về kiến thức, về danh vọng, sự nghiệp kể cả thầy chùa thú thật tôi nằm chiêm bao cũng không nghĩ được bằng 1/10 của Thượng tọa. 30 tuổi đầu! Nhưng không vì vậy mà tôi phủ nhận đại đức Giác Đắng được.
Chuyện của tôi là chuyện của tôi, mà chuyện của thương tọa là của thượng tọa vì ‘tiền nào của nấy thôi’, xin thưa với bác như vậy. Tức là chúng ta không thể lấy cái phước của mình, không thể lấy kiến thức của mình, lấy điều kiện xã hội chung quanh mình mà đánh giá chuyện đó.
Tôi cũng xin thưa rõ là mình không thể nào dám lấy Kinh Phật buộc ai đó phải tin. Có những cái nó nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Ở một lúc nào đó, trong một không gian, thời gian, điều kiện tâm lý, xã hội nhất định nào đó có những cái chúng ta hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Tại sao có những người họ vì tôn giáo hoặc vì chính trị họ dám xả mạng ? Tôi nghĩ chuyện đó hoàn toàn bình thường.
Có những người rủ xuống tàu vượt biên mà họ thừa biết là bước xuống tàu . Tôi nói thật, nó có tới ba đường mà chỉ có một đường xài được thôi. Một đường là nuôi má còn hai đường kia là má nuôi và nuôi cá! Vậy đó mà người ta cũng xuống tàu người ta đi. Người ta bán mạng, biết xuống là chết. Tôi nè, bảy lần đường biển, hai lần đường bộ. Một lần tôi đi Lào, một lần tôi đi Campuchia. Trên đời có những cái mà ở vào hoàn cảnh đó, tôi mới tin là người ta dám xả mạng.
Như Harakiri của Nhật họ mổ bụng. Nói thật chỉ có lớn lên trong văn hóa Nhật ta mới tin chuyện: cần thì tôi với anh bước ra mổ bụng.
Hoặc chiến sĩ thời Trung cổ châu Âu, chỉ vì một người con gái, bước ra đấu kiếm. Đấu kiếm đây là sanh tử chớ đâu phải đấu kiếm có trọng tài. Đấu kiếm là tôi còn thì tôi lấy được nàng, tôi chết thì anh lấy. Chỉ vì một người con gái thôi.
Những chuyện này ở trong một điều kiện văn hóa nào đó, điều kiện xã hội, trong một điều kiện tâm lý nào đó chúng ta mới có thể chấp nhận được. Xin thưa là ý tôi đến đó thôi. Nếu thỏa mãn thì thôi, còn nếu bác hỏi thêm thượng tọa trụ trì sẽ ổn hơn (cười).
Sư Giác Đẳng Trả Lời:
Chúng tôi xin nhân câu trả lời này của sư Giác Nguyên xin nhắc thêm một điều là đa số những người có niềm tin tôn giáo tranh cãi với nhau vấn đề phù phiếm. Thí dụ như ở bên văn hóa Tây phương giữa Tin Lành và Công Giáo giữa vấn đề đức Maria đồng trinh hay không đồng trinh cũng là đề tài rất lớn. Những chuyện hồi nãy thầy Giác Nguyên kể, trong Kinh tạng Pali nói Đức Phật thỉnh thoảng Ngài cũng bị mỏi lưng. Đó cũng là vấn đế rất lớn tạo văn hóa của Đạo Phật.
Nói chung, những khác biệt của chúng ta nó không nằm ở những vấn đề quan trọng, mà nó nằm ở tiểu tiết rất là nhiều.
Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời Đức Phật, Ngài đã chứng kiến một sự việc, đó là Giáo chủ của Đạo Jaina (chúng ta gọi là Kỳ Na giáo) vừa nằm xuống thì đồ chúng chia rẽ. Học trò chia ra năm phe bảy phái, bên này chỉ trich bên kia, bên kia chỉ trích bên nọ.
Lúc bấy giờ em của ngài Xá Lợi Phất là ngài Cunda đi khất thực. Ngài nghe chuyện ông thầy vừa nằm xuống mà đệ tử chia rẽ nên về bạch với Thế Tôn. Đức Phật nhân đó nhắc một chuyện rất quan trọng. Ngài dạy rằng trong tương lai, sau khi Như Lai viên tịch rồi thì những giáo lý căn bản như Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ như ý túc,Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần v.v… tức những Pháp trợ Bồ đề sẽ là những giáo lý nền tảng cho các con.
Thật ra là một người học Phật chúng ta nên có thái độ rõ ràng về việc đó. Không nhất thiết là chúng ta phải tin là có đời trước hay có đời sau. Thí dụ như những điều rất huyền diệu về cuộc đời Đức Phật. Nhưng đề cập đến những việc đó chúng tôi nghĩ hoàn toàn thuộc phạm vi cá nhân, mọi người có quyền tin và cũng có quyền không tin. Nhưng rõ ràng dù tin hay không tin thì những niềm tin đó không phương hại đến sự thực hành Phật Pháp trong đời sống chúng ta. Bởi vì giáo lý của Đức Phật đã ban bố cho chúng ta rất nhiều thứ để áp dụng trong đời sống hàng ngày.
Hơn nữa chúng ta phải cẩn thận.
Nhân dịp đạo hữu hồi nãy vừa hỏi về chuyện đức Bồ tát đản sanh, thì có một lần chúng tôi đọc một bài báo của một thầy viết, chúng tôi rất là phiền. Sau đó chúng tôi gặp thầy đó, có nói và thầy đó đồng ý và gần như là một lời xin lỗi.
Thầy đó nói về một thái độ rất là cao ngạo của một vị hòa thượng, mà thầy nghĩ là thầy chỉ trích, và gọi thái độ cao ngạo đó là thái độ ‘Duy ngã độc tôn’. ‘Duy ngã độc tôn’ là câu lấy từ chữ Hán dịch bài kệ mà khi đức Bổn sư chào đời, là Bồ tát đản sinh Ngài nói là “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”: Trên trời dưới đất ta là bậc cao quý hơn cả. Hồi nhỏ tôi vô chùa tôi nghe câu ‘Duy ngã độc tôn’ tôi tưởng câu đó nghĩa rất là cao ngạo, thấy một vị cao ngạo tôi nói là vị đó ‘duy ngã độc tôn’.
Chúng ta không khéo thì rất là dễ đi ngược lại giá trị tâm linh của mình. Do đó chúng ta phải hết sức cẩn thận.
Một điều may mắn cho Phật tử chúng ta là chúng ta có kho tàng Kinh điển rất lớn lao. Nhưng ngược lại chúng ta cũng có nhược điểm rất lớn là Kinh sách nhiều quá. Nên đôi khi có một số lớn chúng ta không nắm vững được và có thể dùng cái này để phản bác cái kia, dùng cái kia phản bác cái nọ.
Mới đây trong một tờ báo có một bài viết của một vị thầy, nêu rằng ngày hôm nay Phật tử không có tin Phật nhiều, không chịu khó tụng Kinh niệm Phật là vì nghĩ tự mình thắp đuốc mà đi thôi không cần Phật nữa.
Nhưng thực sự câu “Tự mình thắp đuốc mà đi” là do Đức Phật dạy chư thánh Tăng thôi. Chúng ta đâu control được, đúng ra câu chuyện đó rất dài dòng văn tự, nhưng nói chung là chúng ta phải rất là thận trọng khi đọc Kinh Phật. Chúng tôi rất muốn có những giờ phút như vậy để chúng ta thảo luận một số vấn đề riêng tư, để chúng ta có thể nói lên những gì ta có thể tin được và những gì chúng ta đã có hoài nghi.
Nhưng nói chung, nếu học Phật Pháp mà hoàn toàn vấn đề kiểu trí thôi, nghĩa là vấn đề nào cũng tranh cãi cho đến nơi đến chốn thì điều đó thiệt thòi cho chúng ta lớn lắm. Vì có những điều chúng ta không cần tranh cãi nhiều mà chúng ta chỉ cần một tinh thần rất cởi mở thì chúng ta có thể vượt qua điều đó. Nói cho cùng, trong việc học Phật, chúng ta không phải là làm thế nào để gánh hết tất cả Kinh điển lên vai của mình; mà làm thế nào để chúng ta đi qua được tất cả mà chúng ta không bị kẹt cái gì hết. Đức Phật dùng những từ nói kiến thức là trù kiến, long kiến, khoa khung kiến. Thí dụ nhiều lúc những chiến thuật đó chỉ là gánh nặng cho chúng ta nhiều hơn là lợi lạc trong sự tu tập. Vì vậy chúng ta phải rất là cẩn thận. Dĩ nhiên việc tin hay không tin nó hoàn toàn tùy thuộc cá nhân, dù phải nói thêm một lần nữa rằng những niềm tin đó vốn dĩ nó không có ảnh hưởng lớn đến đời sống tu tập của chúng ta. Chúng ta cũng nên nhắc lại bài học quan trọng rất hoan hỷ trong lịch sử nhân loại là đa phần con người giữa tôn giáo này và tôn giáo kia, giữa tông phái này tông phái kia mạ lỵ, mạt sát, khinh rẻ nhau không dẫn đến vị giải thoát, không dẫn đến sự giác ngộ mà chỉ vì việc rất tầm thường: chuyện Đức Maria đồng trinh hay không đồng trinh, rồi việc Đức Phật như thế này Đức Phật như thế kia, Đức Phật có Pháp thân Báo thân hay không. Những việc đó là những nguyên nhân gây chia rẽ rất sâu xa và vốn dĩ nó không đáng.
Quý Phật tử có câu hỏi gì muốn hỏi ạ?
Trong bài Kinh Đại Bổn ở Trường Bộ (Trường Bộ 14), có lời khải thị của Đức Phật. Đức Phật chào đời không như sự chào đời của những đứa trẻ sơ sinh thông thường khác. Mặc dầu chào đời bằng hình hài một hài nhi, nhưng Ngài đã đi trên 7 đóa sen và Ngài có lời khải thị rằng: “Ở trên trời ở dưới đất (trong ba cõi) Ta là quý báu hơn cả, và kiếp này là kiếp chót không còn tái sanh”.
(Notes: Trường Bộ 14 (Kinh Đại Bổn):
https://budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong14.htm
Chúng tôi có nghe nhiều lời giải thích. Có những lời giải thích mà chúng tôi nghĩ rằng một số các thầy giải thích muốn nói những lời lẽ có vẻ khiêm tốn hơn.
Có thầy nói là ‘Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’ là nói trên trời dưới đất chỉ có cái ‘ngã’ là quan trọng thôi, cái ‘ngã’ là cái ta là quan trọng nhất. Nói như vậy có nghĩa là thầy nói chúng ta nên lo về phần hồn của mình, lo về chính bản thân mình là ‘duy ngã độc tôn’.
Nhưng thật ra điều đó có hai chuyện không đúng với tinh thần của Phật.
Như vậy lời nói đó không phải là một lời cao ngạo, không phải lời có ý gì khác bởi vì khi học Tạng văn sẽ thấy rất rõ ý nghĩa đó. Có đôi lúc quí vị Phật tử đọc bài Kinh trong bản chữ Hán có thấy câu “Như thị ngã văn” (Tôi nghe như vầy). Có một số lời Chú giải giải rất dài dòng thế nào là như, thế nào là thị, thế nào là ngã thế nào là văn.
Nhưng trong Tạng văn giải thích rất đơn giản là ‘Tôi đã nghe như vầy’ thôi.
Vậy nếu chúng ta
Vấn Đáp 2:
Xin có câu hỏi với Đại Đức Giác Nguyên ạ. Có lần Đại đức nói Đại Đức không tin những Kinh cầu siêu cho người lâm chung mất. Như vậy người lâm chung làm sao siêu thoát được?
Sư Giác Nguyên Trả Lời:
Dạ tôi xin thưa với Bác và với đại chúng. Cũng rất may mắn là câu hỏi này được nêu ra trước mặt Thượng tọa trụ trì và đặc biệt có tôi còn ở tại Pháp Luân. Nếu chẳng may câu hỏi này lại được đặt ra ở một nơi nào đó không có tôi thì rất là kẹt cho tôi, bởi tôi là một tu sĩ Phật Giáo thì không có lý gì tôi không tin chuyện đó.
Tôi xin thưa là tôi đã nói là không tin. Nhưng không tin là thế này, trong một ngày (tôi đang nói về những người Phật tử chớ không nói về những người không phải Phật tử) kể cả một vị sư hoặc những người Phật tử trong 24 giờ đồng hồ có được bao nhiêu phút giây làm thiện, nói thiện, suy nghĩ thiện? Có được bao nhiêu phút giây nghĩ về Tam Bảo? Vì nếu không có nỗ lực thì trong 10 năm, 20 năm, 40 năm và 60 năm, cứ như vậy, 24 giờ mà mình kiểm tra, (như trong lớp học hôm trước tôi nói đậu trắng đậu đen đó) thì mình hầu hết chỉ toàn đậu đen không. Thì nếu tới giờ lâm chung mà cái người như vậy: 24 giờ trong một ngày, 30 ngày trong một tháng, 12 tháng trong một năm mà cái phần thiện ít hơn phần ác; Thì tôi nói thật, khi đi tụng Kinh cho những người đó, cứ mỗi lần họ mời mà tôi đến tôi nhìn tôi cứ nhớ là lúc còn sống họ hay nhiều chuyện, lúc còn sống họ hay sân, họ sống họ là người ích kỷ thí dụ vậy, thì lúc tôi đến tụng Kinh tôi nhớ bài Kinh ở trong Kinh Tạng như thế này. Đức Phật nói: với một người thân làm ác, khẩu làm ác, ý suy nghĩ ác, những người như vậy khi lâm chung mà nếu có ai đó cầu nguyện, khấn vái để cho họ được siêu lên trên, Ngài nói chuyện đó khó khăn như ném một hòn đá xuống nước mà cầu nguyện cho nó nổi lên vậy. Còn với những người bình thường cái thân làm thiện, cái khẩu nói thiện và cái ý suy nghĩ điều thiện thì những người đó khi họ lâm chung khi họ chết thì giống như dầu mà đổ xuống nước. Tức là dầu mình có nguyền rủa nó, khen ngợi, tán tụng hay nguyền rủa nó hay không thì dầu vẫn cứ nổi và đá vẫn cứ chìm.
Tôi hoàn toàn không phủ nhận cái giá trị tu hành của mỗi người Phật tử, nhưng tôi xin thưa với đại chúng rằng tôi hy vọng đại chúng cũng nhìn nhận với chúng tôi một điểm là gặp được Phật Pháp là điều rất khó và hoan hỷ trong Phật Pháp lại là khó hơn. Và thực hiện đúng như lời Phật dạy lại càng khó khăn hơn nữa.
Chính từ chỗ này khi đi tụng Kinh cho Phật tử và ngay cả cái chuyện ngày nào chúng tôi nằm xuống thì khi nghĩ tới ngày nằm xuống chúng tôi vẫn nghĩ rằng mình sẽ ra đi với những gì mà mình đã đầu tư mỗi ngày chớ không phải là ra đi bằng những giờ tụng Kinh của chư Tăng dành cho tôi lúc đó. Tôi xin thưa với bác và đại chúng như vậy. Tôi vẫn nghĩ rằng Giác Nguyên sẽ ra đi bằng cái gì mà mình đã đầu tư trong suốt cuộc đời, chớ không tin rằng mình sẽ ra đi bằng vào những thời Kinh mà chư Tăng dành cho tôi. Tôi không tin, kể cả hòa thượng, ngay cả thượng tọa trụ trì là hai người rất thương tôi. Hoặc tôi có trở về VN Sư cậu có tụng cho tôi, sư huynh, đại sư huynh có tụng cho tôi, cả sư đệ có tụng cho tôi hoặc bà mẹ tôi có tụng cho tôi bằng tất cả tình thân tôi cũng xin thưa rằng tôi chỉ tin rằng tôi sẽ ra đi với những gì mà tôi đã tạo. Chớ còn mà ra đi bằng sức đẩy của những bài Kinh thì tôi xin thưa là tôi không tin.
Sư Giác Đẳng Trả Lời:
Chúng tôi xin thưa với quí vị là quan điểm của thầy Giác Nguyên dựa trên một cá tính rất đặc biệt: thứ nhứt là thầy học Phật Pháp thầy nhìn vấn đề một cách rất quyết tâm. Điều đó rất bình thường trong tất cả mọi người tu hành. Nhưng chúng tôi cũng phải nói thêm quý vị là ngày hôm nay thầy Giác Nguyên giảng về Năm uẩn, chúng ta biết rằng những gì chúng ta trao gởi với người khác cũng là sự trợ duyên về cả năm phương diện đó. Lấy thí dụ là thầy Giác Hạnh nói là khi thầy đau thì cái bàn tay của bà mẹ rờ vào trán thì thầy nghe giống như tơ trời (..) vậy. Chỉ một bàn tay rờ vào trán nghe rất là ấm áp trong lòng, vì những Sắc uẩn thì nó ảnh hưởng lớn. Dĩ nhiên không thể nói mỗi lần mình bịnh, không cần đi bác sĩ mà chỉ nhờ mẹ rờ đầu là hết bịnh đâu, tức nhiên là phải uống thuốc đàng hoàng. Nhưng nói như vậy cũng không có nghĩa là sắc của bà mẹ không có giá trị cho chúng ta.
Về thọ uẩn chúng ta phải nhìn nhận là theo lời Kinh tiếng Kệ và hình ảnh của chư Tăng trong cái sức cảm nhận nào đó nó cũng tạo cho chúng ta sự ấm cúng cần thiết cho người sống và lợi cho người chết nữa. Một đám tang mà không có tụng Kinh không có cầu siêu thì cũng lạnh lẽo. Và thực sự những đám tang mang lại rất nhiều lợi lạc cho người dự tang lể, nếu chúng ta là người tổ chức có Đạo vị, chúng ta gói ghém vào Kinh cầu siêu bằng ngoài cái Tụng ra còn có thuyết Pháp, v.v…Đối với người mất thì cảm thọ rất là cần. Như trong Kinh nói vua A Dục mất đi và vì sự sân hận giờ chót nên sanh làm loài rắn. Hoàng tử Mahinda đến vẫn cho nhà vua những sự cảm nhận từ một vị Thánh nhân, từ một người quyến thuộc, từ một người con của mình để nhà vua có thể rời bỏ kiếp sa đọa đó sanh về cõi an lạc.
Về Tưởng uẩn cũng quan trọng. Cái ký ức đôi khi rất là cần trong một cơn hoảng hốt nào đó. Quí vị biết là nhiều khi chúng ta lâm nạn chúng ta quên mất những gì chúng ta có, quên cái vốn liếng gì chúng ta xài được, mà nếu có một người nhắc nhở chúng ta, quả thật điều đó là lợi vô cùng. Thật ra trong bài Kinh có một câu như vầy: “Cầu xin Hộ Pháp, chư thiên phát tâm hoan hỷ báo truyền gần xa”. Có nhiều lúc những thân nhân quyến thuộc chúng ta sanh trong cảnh khổ, và chư Tăng tụng Kinh hồi hướng rồi chư Thiên nhắc nhở cho biết là có những người hồi hướng như vậy và những người này hoan hỷ sanh về cõi an lạc.
Về Hành uẩn cũng quan trọng lắm. Hành uẩn là cái ý thức rất là sáng suốt về những mê chấp, về những sai lầm trong đời sống chúng ta. Nhiều khi lời Kinh có công năng đánh động làm tỉnh thức tâm hồn mình.
Còn Thức uẩn thì sao? – Chúng tôi nghĩ rằng khi nói đến Thức uẩn thì chúng ta có thể nói như vầy: một âm thanh làm nhẹ nhàng thanh thản nó cũng có tác dụng lớn cho tâm hồn chúng ta nữa. Giống như tối nay quí vị đến ngồi ở đây, đó là Phật Pháp mang giá trị thay đồi tâm hồn quí vị chúng tôi nghĩ rằng chuyện đó chưa chắc nhưng cái sự trợ duyên là có. Sự cầu siêu cũng tương tự như vậy. Trong bài Kinh (…) Đức Phật cho chúng ta biết không phải thân nhân nào mất đi chúng ta hồi hướng thân nhân đó cũng nhận hết. Có người nhận được, có những người không nhận được, và có những người không cần đến chúng ta. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không làm. Chúng ta làm vì bổn phận của chúng ta, mà nói làm việc cầu may cũng được, nói làm vì bổ phận cũng được, nhưng việc đó là việc nên làm.
Vì vậy, dĩ nhiên lúc sanh tiền quí vị chuẩn bị cho kỹ giống như thầy Giác nguyên nói, là tin vào chính mình để mình chết đi mà không phải cầu người này người kia để tụng Kinh hộ niệm, thì chuyện đó quý lắm, rất là quý. Nhưng điều đó, trong cách nói đó không có nghĩa là phủ nhận đi giá trị của sự trợ duyên hộ niệm, tại vì sự việc đó rất là cần. Đức Phật cũng xác định như vậy. Cũng nên nói rõ một điều là không phải hễ cầu siêu thì chắc chắn là được. Cũng tương tự như quí vị gặp một người bạn rất là khổ thì chúng ta nên tìm vài lời an ủi. Không nghĩa là lời an ủi nào cũng làm thay đổi tâm hồn, thay đổi sự bức xúc nhất thời đó. Có khi lời an ủi nó chỉ là lời nói gió thoảng mây bay, an ủi có tác dụng thực sự. Và không có nghĩa là quí vị nói là khi nào tôi an ủi người khác phải chắc chắn điều đó tôi mới nói. Không phải. Chúng ta vẫn nói như thường, dầu người đó có vơi hay không vơi đi những điều đau khổ trong lòng họ.
Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên rõ ràng về điểm này, là nếu trong đời sống của quí vị mà nghĩ đến kiếp sau của mình, đối với bản thân mình chúng tôi nghĩ cách nghĩ của thầy Giác Nguyên là cách nghĩ rất có lợi. Bởi vì trong đời sống hàng ngày, chúng ta nên học nhiều, tu nhiều, nên suy nghĩ về Phật Pháp nhiều để không phải trông cậy rằng, ỷ y rằng chết rồi có thân nhân hồi hướng cho mình.
Nhưng đó là khi chúng ta nghĩ về thân phận của mình. Còn đối với những người đã mất, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên nghĩ một thái độ khác, là chúng ta nên làm. Làm không lợi cho người chết thì cũng lợi cho người sống. Nói nôm na là không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc. Nghĩa là nếu thân nhân không nhận được phước ở cách này thì cũng nhận được ở cách kia. Không lợi cách này cũng lợi cách khác. Do vậy, ở cả hai cách chúng ta đều có quan tâm như nhau, chớ không nên nói rằng bởi vì cầu siêu là có quý thầy tụng Kinh thì không cần tu hành gì hết. Nói như vậy thì rất là cực đoan. Chúng ta cũng không nên phủ nhận là chúng ta chỉ có thể nhận được phước gì mà mình tự làm lấy, người khác không hồi hướng phước cho mình.
Trong Kinh Phật cũng nói rằng sự hồi hướng phước cầu siêu vẫn có sự lợi lạc ở phương diện nào đó mặc dù không hoàn toàn. Và những người thân của mình. Trong Kinh Thi Ca La Việt Đức Phật dạy rằng sau khi cha mẹ quá vãng, con có bổn phận nên làm phước để hồi hướng cho cha mẹ. Nếu quý Phật tử có thân nhân qua đời, không riêng gì cha mẹ mà bất cứ ai chúng ta vẫn nên cầu siêu, đó là một điều rất nên làm, chớ không phải vì chúng ta quá tin vào của mình mà chúng ta không tụng Kinh cho người khác. Đối với chính mình thì chúng ta nên đặt niềm tin như thầy Giác Nguyên, nhưng với người khác cũng nên cầu siêu./.
(Hết)
https://www.toaikhanh.com/videotext.php?vid=99YIf2mPXwY&abt=Ng%C5%A9+u%E1%BA%A9n
Chúng ta nhắc lại quan điểm của Phật giáo là không có ‘tôi’ không có ‘ta’, không có ông A bà B, nghe. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về từng cái buồn vui, tốt xấu của mình; và trong từng mỗi đơn vị phù du ngắn ngủi này nó đều có giá trị nhất định của nó. Xin thưa với đại chúng như vậy. Chớ các vị đừng nghĩ rằng cái buồn vui của tôi, tôi là một cá nhân, chuyện buồn vui của tôi không thành vấn đề. Không phải như vậy. Tinh thần vô ngã của Phật giáo không phải đề nghị chúng ta sống buông xuôi mọi thứ, bởi vì nói vô ngã là không có tôi, không có hắn, tôi muốn làm gì tôi làm. Không phải!
Mà tinh thần vô ngã của Đạo Phật dạy chúng ta một điều: chính vì vô ngã, anh hãy tỏ ra dễ thương hơn, bởi anh đâu có gì để giữ nữa, anh đâu có gì đâu cho nên hãy tốt hơn.
- Tôi nhớ người Tây có câu: “Hãy học như mình sống mãi và hãy sống như mình sẽ chết ngày mai”.
- Ông Dante là bác học người Ý, 70 tuổi rồi ông vẫn còn học tiếng Đức. Con ổng hỏi cha đã là bác học sao còn học nữa. Ổng nói, "Cha học thêm tiếng Đức để cha đọc thêm sách báo, và bác học không có nghĩa là ngừng học con à."
Giáo lý Ngũ uẩn của Phật giáo nói lên tinh thần vô ngã, nhưng quan điểm nhận thức rất tích cực chớ không phải tiêu cực. Khi mọi người biết xả kỷ thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Đêm nay chúng ta đã học về cái gọi là con người một cách sâu hơn, chuyên môn hơn.
- Sắc uẩn là những gì thuộc về vật chất cấu tạo nên hình hài già trẻ, đẹp xấu của chúng ta.
- Thọ uẩn là những cảm giác buồn vui, khó chịu dễ chịu của thân và tâm.
- Tưởng uẩn là những kinh nghiệm, những cái biết của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào information từ quá khứ, những đánh giá tốt hay xấu lệ thuộc vào kiến thức đã có trước.
- Hành uẩn là sự đầu tư của ý thức: tôi ghét cái đó, tôi thích cái đó, tôi trọng cái đó, tôi khinh cái đó, tôi tin cái đó, không tin cái đó, tôi hiểu cái đó, tôi không hiểu cái đó, thì đó là Hành uẩn.
- Thức uẩn là cái biết của các giác quan.
Tôi không biết đại chúng có còn muốn nghe tôi nữa hay không. Nếu mình có thể nghỉ sớm hơn, thượng tọa trụ trì muốn nhắc nhở chúng ta gì đó.
Vấn đáp 1:
- Bạch thầy cho con hỏi một câu: Phật Thích Ca khi ngài sanh ra đời làm sao mà bước 7 bước trên hoa sen?
Sư Giác Nguyên Trả Lời:
- Bác muốn nghe câu trả lời riêng hay luôn bây giờ ạ?
- Dạ, con muốn nghe thầy trả lời luôn.
- Dạ, tôi xin thưa với bác và cả đại chúng, chúng tôi nghĩ có những cái không đơn giản giải thích bằng cách hiểu máy móc hoặc lý tính được. Ở đây chúng tôi không cố gắng buộc bác phải tin đó là sự thật nhưng xin thưa với bác là có những vấn đề mà chúng ta phải có thời gian cần thiết để xác định. Chẳng hạn từ nhỏ tới lớn tôi đâu có làm gì ra tiền, tôi đi tu mà. Nhưng có lần chúng tôi có tiền, tôi nhớ có chừng 4 triệu mà dám bỏ ra ba triệu rưỡi vào một công trình xây dựng ở VN, xin thưa đại chúng hoan hỷ như vậy. Bốn triệu mà bỏ ra ba triệu rưỡi! Chúng tôi tưởng vậy là lắm rồi. Nhưng về sau tôi biết là có những người họ bỏ ra một trăm mấy chục triệu để cất cái chùa. Theo đại chúng thì số tiền lớn nhứt mà trong 30 năm trời nay tôi bỏ ra (chỉ có ba triệu rưỡi thôi) mà tôi có nên tin rằng có ai đó dám bỏ ra một trăm mấy chục triệu để cất chùa hay không. Theo đại chúng tôi có nên tin không. Hay là tôi chỉ dựa vào số tiền nhỏ của tôi mà không tin? – Tin chớ, tuy tôi chỉ có ba triệu rưỡi thôi. Nhưng tôi tin vì tôi nghĩ đơn giản khả năng mình đến đâu thì mình làm đến đó.
Một điều hết sức đặc biệt trong Phật Pháp, vấn đề hết sức tinh tế nữa là ‘tiền nào của nấy’. Chúng ta tu học, chúng ta luôn luôn sợ mất, sợ bị trầy móng tay, sợ bị con mình nó khóc, sợ vợ mình buồn chúng ta không dám bỏ ra cái gì của mình hết. Cho nên những gì chúng ta đạt được rất là ít ỏi. Chính từ chỗ chúng ta được quá ít chúng ta không tin vào cuộc đời.
Còn Phật thì sao?
– Ngài làm những điều khó làm. Ngài cho ra những điều khó cho và Ngài thực hiện những điều khó thực hiện. Cho nên khi thành Phật rồi Ngài làm được những điều khó làm và hiểu được những điều khó hiểu. Ngài có được những cái rất khó có. Máu mà Ngài bỏ ra nhiều hơn nước trong bốn biển đại dương. Mắt Ngài bỏ ra nhiều hơn sao trên trời để mà bố thí chúng sanh kể từ lúc lập nguyện Bồ tát. Thịt của Ngài móc Ngài cắt cho chúng sanh ăn còn nhiều hơn thịt đất đá trên địa cầu. Với những công đức vô lượng như vậy thì Ngài sở hữu, thành tựu, sở đắc, thủ đắc những cái mà người như chúng ta khó mà tưởng tượng được.
Chúng ta một ngày một buổi đầu hôm sớm mai hiểu được Phật Pháp rồi làm phước được năm ba triệu trong vài cơ sở từ thiện, cúng chùa đôi ba lần, đôi ba lần nghe Pháp; với chừng đó công phu chúng ta rất khó mà tưởng tượng. Với những người ở VN, một năm học ba lớp, nhưng cũng có những người một lớp học ba năm. Chẳng hạn như thượng tọa trụ trì, anh em ruột với chúng tôi, cùng cha cùng mẹ với chúng tôi. Ngày xưa đi học, các vị còn nhớ ngày xưa đi học ở VN cuốn Toán lớp 5 rất là khó. Thượng tọa học xong cuốn đó để thi vào Đệ thất . Đậu xong xuôi thì còn thiếu tuổi. Ông già tôi phải làm đơn xin thêm tuổi cho thượng tọa vào. Vậy mà tôi xin thưa với đại chúng tôi nói thật, không hề tán thêm. Tôi rất dốt toán, tôi học cái gì cũng cà lớt cà lớt, chắc đại chúng không ngờ rằng tôi chưa hề có bằng cấp nào. Tôi đọc sách được tôi dịch sách được, tạm được mà tôi chưa hề có bằng cấp gì hết. Vì sao? Vì mỗi người có phước riêng. Tôi không thể lấy cái đầu tôi đem so với khả năng trí óc của thượng tọa được, mà đó là anh em ruột với nhau. Mà những gì tôi có về kiến thức, về danh vọng, sự nghiệp kể cả thầy chùa thú thật tôi nằm chiêm bao cũng không nghĩ được bằng 1/10 của Thượng tọa. 30 tuổi đầu! Nhưng không vì vậy mà tôi phủ nhận đại đức Giác Đắng được.
Chuyện của tôi là chuyện của tôi, mà chuyện của thương tọa là của thượng tọa vì ‘tiền nào của nấy thôi’, xin thưa với bác như vậy. Tức là chúng ta không thể lấy cái phước của mình, không thể lấy kiến thức của mình, lấy điều kiện xã hội chung quanh mình mà đánh giá chuyện đó.
Tôi cũng xin thưa rõ là mình không thể nào dám lấy Kinh Phật buộc ai đó phải tin. Có những cái nó nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Ở một lúc nào đó, trong một không gian, thời gian, điều kiện tâm lý, xã hội nhất định nào đó có những cái chúng ta hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Tại sao có những người họ vì tôn giáo hoặc vì chính trị họ dám xả mạng ? Tôi nghĩ chuyện đó hoàn toàn bình thường.
Có những người rủ xuống tàu vượt biên mà họ thừa biết là bước xuống tàu . Tôi nói thật, nó có tới ba đường mà chỉ có một đường xài được thôi. Một đường là nuôi má còn hai đường kia là má nuôi và nuôi cá! Vậy đó mà người ta cũng xuống tàu người ta đi. Người ta bán mạng, biết xuống là chết. Tôi nè, bảy lần đường biển, hai lần đường bộ. Một lần tôi đi Lào, một lần tôi đi Campuchia. Trên đời có những cái mà ở vào hoàn cảnh đó, tôi mới tin là người ta dám xả mạng.
Như Harakiri của Nhật họ mổ bụng. Nói thật chỉ có lớn lên trong văn hóa Nhật ta mới tin chuyện: cần thì tôi với anh bước ra mổ bụng.
Hoặc chiến sĩ thời Trung cổ châu Âu, chỉ vì một người con gái, bước ra đấu kiếm. Đấu kiếm đây là sanh tử chớ đâu phải đấu kiếm có trọng tài. Đấu kiếm là tôi còn thì tôi lấy được nàng, tôi chết thì anh lấy. Chỉ vì một người con gái thôi.
Những chuyện này ở trong một điều kiện văn hóa nào đó, điều kiện xã hội, trong một điều kiện tâm lý nào đó chúng ta mới có thể chấp nhận được. Xin thưa là ý tôi đến đó thôi. Nếu thỏa mãn thì thôi, còn nếu bác hỏi thêm thượng tọa trụ trì sẽ ổn hơn (cười).
Sư Giác Đẳng Trả Lời:
Chúng tôi xin nhân câu trả lời này của sư Giác Nguyên xin nhắc thêm một điều là đa số những người có niềm tin tôn giáo tranh cãi với nhau vấn đề phù phiếm. Thí dụ như ở bên văn hóa Tây phương giữa Tin Lành và Công Giáo giữa vấn đề đức Maria đồng trinh hay không đồng trinh cũng là đề tài rất lớn. Những chuyện hồi nãy thầy Giác Nguyên kể, trong Kinh tạng Pali nói Đức Phật thỉnh thoảng Ngài cũng bị mỏi lưng. Đó cũng là vấn đế rất lớn tạo văn hóa của Đạo Phật.
Nói chung, những khác biệt của chúng ta nó không nằm ở những vấn đề quan trọng, mà nó nằm ở tiểu tiết rất là nhiều.
Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời Đức Phật, Ngài đã chứng kiến một sự việc, đó là Giáo chủ của Đạo Jaina (chúng ta gọi là Kỳ Na giáo) vừa nằm xuống thì đồ chúng chia rẽ. Học trò chia ra năm phe bảy phái, bên này chỉ trich bên kia, bên kia chỉ trích bên nọ.
Lúc bấy giờ em của ngài Xá Lợi Phất là ngài Cunda đi khất thực. Ngài nghe chuyện ông thầy vừa nằm xuống mà đệ tử chia rẽ nên về bạch với Thế Tôn. Đức Phật nhân đó nhắc một chuyện rất quan trọng. Ngài dạy rằng trong tương lai, sau khi Như Lai viên tịch rồi thì những giáo lý căn bản như Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ như ý túc,Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần v.v… tức những Pháp trợ Bồ đề sẽ là những giáo lý nền tảng cho các con.
Thật ra là một người học Phật chúng ta nên có thái độ rõ ràng về việc đó. Không nhất thiết là chúng ta phải tin là có đời trước hay có đời sau. Thí dụ như những điều rất huyền diệu về cuộc đời Đức Phật. Nhưng đề cập đến những việc đó chúng tôi nghĩ hoàn toàn thuộc phạm vi cá nhân, mọi người có quyền tin và cũng có quyền không tin. Nhưng rõ ràng dù tin hay không tin thì những niềm tin đó không phương hại đến sự thực hành Phật Pháp trong đời sống chúng ta. Bởi vì giáo lý của Đức Phật đã ban bố cho chúng ta rất nhiều thứ để áp dụng trong đời sống hàng ngày.
Hơn nữa chúng ta phải cẩn thận.
Nhân dịp đạo hữu hồi nãy vừa hỏi về chuyện đức Bồ tát đản sanh, thì có một lần chúng tôi đọc một bài báo của một thầy viết, chúng tôi rất là phiền. Sau đó chúng tôi gặp thầy đó, có nói và thầy đó đồng ý và gần như là một lời xin lỗi.
Thầy đó nói về một thái độ rất là cao ngạo của một vị hòa thượng, mà thầy nghĩ là thầy chỉ trích, và gọi thái độ cao ngạo đó là thái độ ‘Duy ngã độc tôn’. ‘Duy ngã độc tôn’ là câu lấy từ chữ Hán dịch bài kệ mà khi đức Bổn sư chào đời, là Bồ tát đản sinh Ngài nói là “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”: Trên trời dưới đất ta là bậc cao quý hơn cả. Hồi nhỏ tôi vô chùa tôi nghe câu ‘Duy ngã độc tôn’ tôi tưởng câu đó nghĩa rất là cao ngạo, thấy một vị cao ngạo tôi nói là vị đó ‘duy ngã độc tôn’.
Chúng ta không khéo thì rất là dễ đi ngược lại giá trị tâm linh của mình. Do đó chúng ta phải hết sức cẩn thận.
Một điều may mắn cho Phật tử chúng ta là chúng ta có kho tàng Kinh điển rất lớn lao. Nhưng ngược lại chúng ta cũng có nhược điểm rất lớn là Kinh sách nhiều quá. Nên đôi khi có một số lớn chúng ta không nắm vững được và có thể dùng cái này để phản bác cái kia, dùng cái kia phản bác cái nọ.
Mới đây trong một tờ báo có một bài viết của một vị thầy, nêu rằng ngày hôm nay Phật tử không có tin Phật nhiều, không chịu khó tụng Kinh niệm Phật là vì nghĩ tự mình thắp đuốc mà đi thôi không cần Phật nữa.
Nhưng thực sự câu “Tự mình thắp đuốc mà đi” là do Đức Phật dạy chư thánh Tăng thôi. Chúng ta đâu control được, đúng ra câu chuyện đó rất dài dòng văn tự, nhưng nói chung là chúng ta phải rất là thận trọng khi đọc Kinh Phật. Chúng tôi rất muốn có những giờ phút như vậy để chúng ta thảo luận một số vấn đề riêng tư, để chúng ta có thể nói lên những gì ta có thể tin được và những gì chúng ta đã có hoài nghi.
Nhưng nói chung, nếu học Phật Pháp mà hoàn toàn vấn đề kiểu trí thôi, nghĩa là vấn đề nào cũng tranh cãi cho đến nơi đến chốn thì điều đó thiệt thòi cho chúng ta lớn lắm. Vì có những điều chúng ta không cần tranh cãi nhiều mà chúng ta chỉ cần một tinh thần rất cởi mở thì chúng ta có thể vượt qua điều đó. Nói cho cùng, trong việc học Phật, chúng ta không phải là làm thế nào để gánh hết tất cả Kinh điển lên vai của mình; mà làm thế nào để chúng ta đi qua được tất cả mà chúng ta không bị kẹt cái gì hết. Đức Phật dùng những từ nói kiến thức là trù kiến, long kiến, khoa khung kiến. Thí dụ nhiều lúc những chiến thuật đó chỉ là gánh nặng cho chúng ta nhiều hơn là lợi lạc trong sự tu tập. Vì vậy chúng ta phải rất là cẩn thận. Dĩ nhiên việc tin hay không tin nó hoàn toàn tùy thuộc cá nhân, dù phải nói thêm một lần nữa rằng những niềm tin đó vốn dĩ nó không có ảnh hưởng lớn đến đời sống tu tập của chúng ta. Chúng ta cũng nên nhắc lại bài học quan trọng rất hoan hỷ trong lịch sử nhân loại là đa phần con người giữa tôn giáo này và tôn giáo kia, giữa tông phái này tông phái kia mạ lỵ, mạt sát, khinh rẻ nhau không dẫn đến vị giải thoát, không dẫn đến sự giác ngộ mà chỉ vì việc rất tầm thường: chuyện Đức Maria đồng trinh hay không đồng trinh, rồi việc Đức Phật như thế này Đức Phật như thế kia, Đức Phật có Pháp thân Báo thân hay không. Những việc đó là những nguyên nhân gây chia rẽ rất sâu xa và vốn dĩ nó không đáng.
Quý Phật tử có câu hỏi gì muốn hỏi ạ?
Trong bài Kinh Đại Bổn ở Trường Bộ (Trường Bộ 14), có lời khải thị của Đức Phật. Đức Phật chào đời không như sự chào đời của những đứa trẻ sơ sinh thông thường khác. Mặc dầu chào đời bằng hình hài một hài nhi, nhưng Ngài đã đi trên 7 đóa sen và Ngài có lời khải thị rằng: “Ở trên trời ở dưới đất (trong ba cõi) Ta là quý báu hơn cả, và kiếp này là kiếp chót không còn tái sanh”.
(Notes: Trường Bộ 14 (Kinh Đại Bổn):
https://budsas.net/uni/u-kinh-truongbo/truong14.htm
Chúng tôi có nghe nhiều lời giải thích. Có những lời giải thích mà chúng tôi nghĩ rằng một số các thầy giải thích muốn nói những lời lẽ có vẻ khiêm tốn hơn.
Có thầy nói là ‘Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’ là nói trên trời dưới đất chỉ có cái ‘ngã’ là quan trọng thôi, cái ‘ngã’ là cái ta là quan trọng nhất. Nói như vậy có nghĩa là thầy nói chúng ta nên lo về phần hồn của mình, lo về chính bản thân mình là ‘duy ngã độc tôn’.
Nhưng thật ra điều đó có hai chuyện không đúng với tinh thần của Phật.
- Nếu chữ ‘ngã’ đó được hiểu như cái bản ngã thì điều đó không có trong giáo lý Đức Phật, khi Đức Phật Ngài nói đến vô ngã.
- Mà thực sự nếu dựa trên lời khải thị ban đầu thì ý nghĩa đó không hợp lý trong khung cảnh đó.
Như vậy lời nói đó không phải là một lời cao ngạo, không phải lời có ý gì khác bởi vì khi học Tạng văn sẽ thấy rất rõ ý nghĩa đó. Có đôi lúc quí vị Phật tử đọc bài Kinh trong bản chữ Hán có thấy câu “Như thị ngã văn” (Tôi nghe như vầy). Có một số lời Chú giải giải rất dài dòng thế nào là như, thế nào là thị, thế nào là ngã thế nào là văn.
Nhưng trong Tạng văn giải thích rất đơn giản là ‘Tôi đã nghe như vầy’ thôi.
Vậy nếu chúng ta
- so sánh trong Chánh Tạng cũng như bản dịch,
- so sánh bối cảnh nơi Đức Phật ra đời
- Hiểu trực tiếp như vậy để khỏi có những cái hiểu lôi thôi phiền phức sau này, và
- nếu cần hiểu thêm Kinh điển thì còn rất nhiều Phật ngôn để chúng ta hiểu giống như đó thôi.
--ooOoo--
Vấn Đáp 2:
Xin có câu hỏi với Đại Đức Giác Nguyên ạ. Có lần Đại đức nói Đại Đức không tin những Kinh cầu siêu cho người lâm chung mất. Như vậy người lâm chung làm sao siêu thoát được?
Sư Giác Nguyên Trả Lời:
Dạ tôi xin thưa với Bác và với đại chúng. Cũng rất may mắn là câu hỏi này được nêu ra trước mặt Thượng tọa trụ trì và đặc biệt có tôi còn ở tại Pháp Luân. Nếu chẳng may câu hỏi này lại được đặt ra ở một nơi nào đó không có tôi thì rất là kẹt cho tôi, bởi tôi là một tu sĩ Phật Giáo thì không có lý gì tôi không tin chuyện đó.
Tôi xin thưa là tôi đã nói là không tin. Nhưng không tin là thế này, trong một ngày (tôi đang nói về những người Phật tử chớ không nói về những người không phải Phật tử) kể cả một vị sư hoặc những người Phật tử trong 24 giờ đồng hồ có được bao nhiêu phút giây làm thiện, nói thiện, suy nghĩ thiện? Có được bao nhiêu phút giây nghĩ về Tam Bảo? Vì nếu không có nỗ lực thì trong 10 năm, 20 năm, 40 năm và 60 năm, cứ như vậy, 24 giờ mà mình kiểm tra, (như trong lớp học hôm trước tôi nói đậu trắng đậu đen đó) thì mình hầu hết chỉ toàn đậu đen không. Thì nếu tới giờ lâm chung mà cái người như vậy: 24 giờ trong một ngày, 30 ngày trong một tháng, 12 tháng trong một năm mà cái phần thiện ít hơn phần ác; Thì tôi nói thật, khi đi tụng Kinh cho những người đó, cứ mỗi lần họ mời mà tôi đến tôi nhìn tôi cứ nhớ là lúc còn sống họ hay nhiều chuyện, lúc còn sống họ hay sân, họ sống họ là người ích kỷ thí dụ vậy, thì lúc tôi đến tụng Kinh tôi nhớ bài Kinh ở trong Kinh Tạng như thế này. Đức Phật nói: với một người thân làm ác, khẩu làm ác, ý suy nghĩ ác, những người như vậy khi lâm chung mà nếu có ai đó cầu nguyện, khấn vái để cho họ được siêu lên trên, Ngài nói chuyện đó khó khăn như ném một hòn đá xuống nước mà cầu nguyện cho nó nổi lên vậy. Còn với những người bình thường cái thân làm thiện, cái khẩu nói thiện và cái ý suy nghĩ điều thiện thì những người đó khi họ lâm chung khi họ chết thì giống như dầu mà đổ xuống nước. Tức là dầu mình có nguyền rủa nó, khen ngợi, tán tụng hay nguyền rủa nó hay không thì dầu vẫn cứ nổi và đá vẫn cứ chìm.
Tôi hoàn toàn không phủ nhận cái giá trị tu hành của mỗi người Phật tử, nhưng tôi xin thưa với đại chúng rằng tôi hy vọng đại chúng cũng nhìn nhận với chúng tôi một điểm là gặp được Phật Pháp là điều rất khó và hoan hỷ trong Phật Pháp lại là khó hơn. Và thực hiện đúng như lời Phật dạy lại càng khó khăn hơn nữa.
Chính từ chỗ này khi đi tụng Kinh cho Phật tử và ngay cả cái chuyện ngày nào chúng tôi nằm xuống thì khi nghĩ tới ngày nằm xuống chúng tôi vẫn nghĩ rằng mình sẽ ra đi với những gì mà mình đã đầu tư mỗi ngày chớ không phải là ra đi bằng những giờ tụng Kinh của chư Tăng dành cho tôi lúc đó. Tôi xin thưa với bác và đại chúng như vậy. Tôi vẫn nghĩ rằng Giác Nguyên sẽ ra đi bằng cái gì mà mình đã đầu tư trong suốt cuộc đời, chớ không tin rằng mình sẽ ra đi bằng vào những thời Kinh mà chư Tăng dành cho tôi. Tôi không tin, kể cả hòa thượng, ngay cả thượng tọa trụ trì là hai người rất thương tôi. Hoặc tôi có trở về VN Sư cậu có tụng cho tôi, sư huynh, đại sư huynh có tụng cho tôi, cả sư đệ có tụng cho tôi hoặc bà mẹ tôi có tụng cho tôi bằng tất cả tình thân tôi cũng xin thưa rằng tôi chỉ tin rằng tôi sẽ ra đi với những gì mà tôi đã tạo. Chớ còn mà ra đi bằng sức đẩy của những bài Kinh thì tôi xin thưa là tôi không tin.
Sư Giác Đẳng Trả Lời:
Chúng tôi xin thưa với quí vị là quan điểm của thầy Giác Nguyên dựa trên một cá tính rất đặc biệt: thứ nhứt là thầy học Phật Pháp thầy nhìn vấn đề một cách rất quyết tâm. Điều đó rất bình thường trong tất cả mọi người tu hành. Nhưng chúng tôi cũng phải nói thêm quý vị là ngày hôm nay thầy Giác Nguyên giảng về Năm uẩn, chúng ta biết rằng những gì chúng ta trao gởi với người khác cũng là sự trợ duyên về cả năm phương diện đó. Lấy thí dụ là thầy Giác Hạnh nói là khi thầy đau thì cái bàn tay của bà mẹ rờ vào trán thì thầy nghe giống như tơ trời (..) vậy. Chỉ một bàn tay rờ vào trán nghe rất là ấm áp trong lòng, vì những Sắc uẩn thì nó ảnh hưởng lớn. Dĩ nhiên không thể nói mỗi lần mình bịnh, không cần đi bác sĩ mà chỉ nhờ mẹ rờ đầu là hết bịnh đâu, tức nhiên là phải uống thuốc đàng hoàng. Nhưng nói như vậy cũng không có nghĩa là sắc của bà mẹ không có giá trị cho chúng ta.
Về thọ uẩn chúng ta phải nhìn nhận là theo lời Kinh tiếng Kệ và hình ảnh của chư Tăng trong cái sức cảm nhận nào đó nó cũng tạo cho chúng ta sự ấm cúng cần thiết cho người sống và lợi cho người chết nữa. Một đám tang mà không có tụng Kinh không có cầu siêu thì cũng lạnh lẽo. Và thực sự những đám tang mang lại rất nhiều lợi lạc cho người dự tang lể, nếu chúng ta là người tổ chức có Đạo vị, chúng ta gói ghém vào Kinh cầu siêu bằng ngoài cái Tụng ra còn có thuyết Pháp, v.v…Đối với người mất thì cảm thọ rất là cần. Như trong Kinh nói vua A Dục mất đi và vì sự sân hận giờ chót nên sanh làm loài rắn. Hoàng tử Mahinda đến vẫn cho nhà vua những sự cảm nhận từ một vị Thánh nhân, từ một người quyến thuộc, từ một người con của mình để nhà vua có thể rời bỏ kiếp sa đọa đó sanh về cõi an lạc.
Về Tưởng uẩn cũng quan trọng. Cái ký ức đôi khi rất là cần trong một cơn hoảng hốt nào đó. Quí vị biết là nhiều khi chúng ta lâm nạn chúng ta quên mất những gì chúng ta có, quên cái vốn liếng gì chúng ta xài được, mà nếu có một người nhắc nhở chúng ta, quả thật điều đó là lợi vô cùng. Thật ra trong bài Kinh có một câu như vầy: “Cầu xin Hộ Pháp, chư thiên phát tâm hoan hỷ báo truyền gần xa”. Có nhiều lúc những thân nhân quyến thuộc chúng ta sanh trong cảnh khổ, và chư Tăng tụng Kinh hồi hướng rồi chư Thiên nhắc nhở cho biết là có những người hồi hướng như vậy và những người này hoan hỷ sanh về cõi an lạc.
Về Hành uẩn cũng quan trọng lắm. Hành uẩn là cái ý thức rất là sáng suốt về những mê chấp, về những sai lầm trong đời sống chúng ta. Nhiều khi lời Kinh có công năng đánh động làm tỉnh thức tâm hồn mình.
Còn Thức uẩn thì sao? – Chúng tôi nghĩ rằng khi nói đến Thức uẩn thì chúng ta có thể nói như vầy: một âm thanh làm nhẹ nhàng thanh thản nó cũng có tác dụng lớn cho tâm hồn chúng ta nữa. Giống như tối nay quí vị đến ngồi ở đây, đó là Phật Pháp mang giá trị thay đồi tâm hồn quí vị chúng tôi nghĩ rằng chuyện đó chưa chắc nhưng cái sự trợ duyên là có. Sự cầu siêu cũng tương tự như vậy. Trong bài Kinh (…) Đức Phật cho chúng ta biết không phải thân nhân nào mất đi chúng ta hồi hướng thân nhân đó cũng nhận hết. Có người nhận được, có những người không nhận được, và có những người không cần đến chúng ta. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không làm. Chúng ta làm vì bổn phận của chúng ta, mà nói làm việc cầu may cũng được, nói làm vì bổ phận cũng được, nhưng việc đó là việc nên làm.
Vì vậy, dĩ nhiên lúc sanh tiền quí vị chuẩn bị cho kỹ giống như thầy Giác nguyên nói, là tin vào chính mình để mình chết đi mà không phải cầu người này người kia để tụng Kinh hộ niệm, thì chuyện đó quý lắm, rất là quý. Nhưng điều đó, trong cách nói đó không có nghĩa là phủ nhận đi giá trị của sự trợ duyên hộ niệm, tại vì sự việc đó rất là cần. Đức Phật cũng xác định như vậy. Cũng nên nói rõ một điều là không phải hễ cầu siêu thì chắc chắn là được. Cũng tương tự như quí vị gặp một người bạn rất là khổ thì chúng ta nên tìm vài lời an ủi. Không nghĩa là lời an ủi nào cũng làm thay đổi tâm hồn, thay đổi sự bức xúc nhất thời đó. Có khi lời an ủi nó chỉ là lời nói gió thoảng mây bay, an ủi có tác dụng thực sự. Và không có nghĩa là quí vị nói là khi nào tôi an ủi người khác phải chắc chắn điều đó tôi mới nói. Không phải. Chúng ta vẫn nói như thường, dầu người đó có vơi hay không vơi đi những điều đau khổ trong lòng họ.
Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên rõ ràng về điểm này, là nếu trong đời sống của quí vị mà nghĩ đến kiếp sau của mình, đối với bản thân mình chúng tôi nghĩ cách nghĩ của thầy Giác Nguyên là cách nghĩ rất có lợi. Bởi vì trong đời sống hàng ngày, chúng ta nên học nhiều, tu nhiều, nên suy nghĩ về Phật Pháp nhiều để không phải trông cậy rằng, ỷ y rằng chết rồi có thân nhân hồi hướng cho mình.
Nhưng đó là khi chúng ta nghĩ về thân phận của mình. Còn đối với những người đã mất, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên nghĩ một thái độ khác, là chúng ta nên làm. Làm không lợi cho người chết thì cũng lợi cho người sống. Nói nôm na là không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc. Nghĩa là nếu thân nhân không nhận được phước ở cách này thì cũng nhận được ở cách kia. Không lợi cách này cũng lợi cách khác. Do vậy, ở cả hai cách chúng ta đều có quan tâm như nhau, chớ không nên nói rằng bởi vì cầu siêu là có quý thầy tụng Kinh thì không cần tu hành gì hết. Nói như vậy thì rất là cực đoan. Chúng ta cũng không nên phủ nhận là chúng ta chỉ có thể nhận được phước gì mà mình tự làm lấy, người khác không hồi hướng phước cho mình.
Trong Kinh Phật cũng nói rằng sự hồi hướng phước cầu siêu vẫn có sự lợi lạc ở phương diện nào đó mặc dù không hoàn toàn. Và những người thân của mình. Trong Kinh Thi Ca La Việt Đức Phật dạy rằng sau khi cha mẹ quá vãng, con có bổn phận nên làm phước để hồi hướng cho cha mẹ. Nếu quý Phật tử có thân nhân qua đời, không riêng gì cha mẹ mà bất cứ ai chúng ta vẫn nên cầu siêu, đó là một điều rất nên làm, chớ không phải vì chúng ta quá tin vào của mình mà chúng ta không tụng Kinh cho người khác. Đối với chính mình thì chúng ta nên đặt niềm tin như thầy Giác Nguyên, nhưng với người khác cũng nên cầu siêu./.
(Hết)
⏱️
Diễn đàn tuy ảo, nhưng nghiệp quả có thật
Sư Toại Khanh (Giác Nguyên) Giảng Kinh
Diễn đàn tuy ảo, nhưng nghiệp quả có thật
Sư Toại Khanh (Giác Nguyên) Giảng Kinh



![[Image: vote.png]](https://i.postimg.cc/X75q5Fsv/vote.png)