VietBest

Full Version: HUYỀN-SỬ-THI + 50 NĂM NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN
You're currently viewing a stripped down version of our content. View the full version with proper formatting.
Pages: 1 2
THÁNG TƯ VÀ NỖI NHỚ !

[Image: 2a10611a07cbfac7234429319e5b3b3a.jpg]


Ngày 30 tháng 4, tôi lại về thăm ngôi nhà cũ như đã từng bao năm, cứ đến ngày 30 tháng 4 như một thói quen, như một quán tính, tôi luôn dành riêng một ngày đó cho riêng tôi. Tháng 4 của mùa hè, “Mùa hè đỏ lửa” như tên một cuốn sách về chiến tranh của nhà văn mặc áo lính nỗi tiếng Phan Nhật Nam, tên quyển sách đặc biệt đã làm tôi phải để dành tiền mua cho bằng được khi đang học lớp 12 và chuẩn bị thi tú tài IBM năm 1975. Quyển sách đã đọc nhưng kỳ thi tú tài IBM đã không có và không bao giờ có vì cái ngày 30 tháng 4.

Thật kỳ lạ, tại sao tôi không nhớ nhiều hay nhớ rõ những kỷ niệm vui từ tuổi ấu thơ đến tuổi tóc đã đầy màu “sương trắng miền quê ngoại”. Mà tôi lại nhớ toàn những kỷ niệm buồn, không những buồn mà còn đau lòng đến uất nghẹn. Ai đó đã nói ngày 30.4.75 có triệu người vui và cũng có triệu người buồn. Tôi là một trong số triệu người buồn đó. Một nỗi buồn chung của bao nhiêu người. 

Nỗi buồn đó muốn quên cũng khó quên vì nỗi đau lớn quá và thời gian vẫn lần lượt theo chu kỳ “đến hẹn lại lên” để đến mốc tháng tư và ngày 30 đầy ám ảnh…Và rồi năm nào cũng vậy, tôi luôn quay về ngôi nhà cũ, nó nằm tận trong hẻm sâu, tôi cũng vui mừng khi cái tên con đường cũ vẫn còn hiện diện, nó chưa bị mất tên hay bị thay tên đổi họ, con đường Bến Vân Đồn đầy kỷ niệm thân thương của tuổi thơ tôi, nó vẫn còn tên nhưng thay đổi nhiều quá, nhiều đến mức khi trở về thăm lại nơi chốn xưa tôi vẫn không thể hình dung ra bến đò Cầu Kho nó nằm ở đoạn nào của con đường, cái bến đò ngang ngắn ngủn hồi đó đi học tôi vẫn phải đi qua đò để rút ngắn đoạn đường đến trường Petrus Ký khi phải đi bằng xe “lô ca chân” một quãng đường khá xa mà tôi không có nỗi cái xe đạp để đi vì là con nhà nghèo (nhắc lại bỗng thấy tội nghiệp con bé nữ sinh là tôi, chiều nào cũng hối hả đi bộ đến trường).

Với 50 năm dài đăng đẵng mà tôi cứ tưởng như mới vừa hôm qua, về lại con đường xưa, con hẻm xưa…ôi trời bao nhiêu kỷ niệm tràn về theo mỗi bước chân khi đi vào con hẻm cụt quanh co nhiều chỗ quẹo, những người hàng xóm năm xưa cũ không còn bao nhiêu, thậm chí tôi còn mơ mơ hồ hồ khi gặp lại những người quen ở độ tuổi “sống qua ngày chờ qua đời” tôi nhớ lại họ một cách khó khăn vì tôi đã xa nơi chốn cũ từ năm 1976 và những lần về thăm nhà chỉ là những lần về vội vàng và đi trong vội vàng. Những năm tháng sau ngày 30.4.75…nhìn ai cũng tội nghiệp, nhìn ai cũng “mình hạc xương mai” gầy gò đến mức má hóp vì phải ăn cái món lương thực có cái tên rất “dễ kêu là bobo” đã làm má ai cũng hóp vô vì bị nhai quá nhiều mà nó vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” khi đi vào bao tử cho xong nhiệm vụ “đã ăn cơm”. Nhớ lại mà thương thân mình thương phận người trong những năm tháng bĩ cực sau ngày triệu người vui triệu người buồn đó.

Con hẻm nhỏ ngoằn ngèo đã thay đổi nhiều quá, nó bỗng hẹp đi khi bây giờ tấc đất là tấc vàng ở đất Sài Gòn lệ nhiều hơn hoa này. Dân tứ xứ về đây sao nhiều quá, hàng xóm cũ của tôi đâu mất hết rồi??? Họ đã đi về miền đất hứa nào có thật không hay chỉ là  một con đường lành ít dữ nhiều? Đi từ đầu hẻm đến cuối hẻm có những đôi mắt xa lạ tò mò nhìn tôi, họ là dân lao động tứ xứ nhập cư về hẻm tôi và tôi một cư dân gốc gác ba đời nơi đất Sài Gòn bây giờ chỉ là người cũ về thăm nơi chốn cũ và thấy đau đáu một nỗi buồn âm ỉ bấy lâu trở đậy trong lòng mình khi tâm trí quay về miền quá khứ với những êm ấm an vui dù nghèo bên mái ấm gia đình trước ngày 30.4 ngày của triệu người vui triệu người buồn.

Ngôi nhà cũ của tôi đó, đã mất đi con rạch nhỏ nước trong xanh mát lạnh vào những mùa hè oi, con rạch ngày xưa mỗi khi nước cạn chỉ còn một dòng nước nhỏ ngoằn ngèo, con rạch mà tôi từng xăn quần lội xuống để xúc cá bảy màu cho bầy vịt màu lông trắng nõn ăn tạp suốt ngày, rồi những hàng dừa xiêm bao quanh ngôi nhà mái ngói âm dương của ông bà nội đã biến mất như chưa từng có, cây cầu đan bắc qua con rạch để vào nhà cũng chỉ còn trong nỗi nhớ…cây ổi xá lỵ mùi thơm ngọt ở bờ rạch cũng đã mất tăm….tất cả đều biến mất như cái tên Sài Gòn của tôi đã mất tên mãi mãi.

Một số sông, rạch ngày xưa đã bị lấp đất để xây nhà cửa san sát, nhà nào còn được một khoảnh sân để gọi là sân coi như nhà đó rất may mắn khi còn thừa chút đất để làm sân. Nhà ba má tôi là một trong rất ít những ngôi nhà nơi hẻm nhỏ còn được khoảnh sân để vài chậu bông kiểng cho có màu xanh  cây lá, trồng thêm một cây mai để kỷ niệm khoảnh sân ngày xưa ông bà nội tôi có cây mai già cứ mỗi mùa tết đến các chị em tôi xúm nhau lặt lá mai mệt nghĩ…cái câu “Thương hải biến vi tang điền” sao mà đúng quá, sông rạch biến thành đất bằng lúc nào không biết. Cũng như tôi về thăm lại ngôi nhà cũ mà cứ ngỡ mình đi lạc vì mọi thứ thay đổi đến không ngờ.

Tháng tư về thăm lại ngôi nhà xưa, trầm mặc bao nhiêu nỗi nhớ thương, cuốn phim kỷ niệm quay chầm chậm lại trong trí nhớ đã đến tuổi quên nhiều hơn nhớ….nhưng quên gì thì quên, tôi vẫn không thể quên buổi chiều 30 tháng 4 năm 1975, sau buổi sáng 30 đầy hoang mang sợ hãi, cuối buổi chiều tôi mới dám bước chân ra đầu hẻm, đứng bên lề đường gần chợ Cầu Dừa và nhìn thấy bao ánh mắt tuyệt vọng xung quanh mình, nhìn thấy những người thanh niên ngồi trên xe jeep mui trần đang chạy rầm rập trên con đường Bến Vân Đồn nhỏ hẹp của tôi, họ hô to các khẩu hiệu, tay cầm súng giơ cao, tay phất lá cờ nửa xanh nửa đỏ …lúc đó tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc vì tôi đã biết một sự thật hiễn nhiên Sài Gòn của tôi không còn nữa, miền Nam thương yêu của tôi không còn nữa…

Và kể từ buổi chiều 30.4 ngày đó đến nay, mỗi tháng tư về luôn làm lòng tôi chìm đắm trong ngàn nỗi nhớ thương mọi thứ của ngày xưa.

Ái Khanh Trần Thị Bích Thủy  (Petrus Ký 69-75).

Crying-face4 💔💔
𝗡 ư ớ 𝗰  𝗺 ắ 𝘁  𝗺 ộ 𝘁  𝗻 𝗴 à 𝘆  𝘁 𝗵 á 𝗻 𝗴  𝗧 ư

[Image: 681271100_1353066480008103_5907882504648...e=69F66062]


Một buổi sáng sau ngày 30-4-1975 ở chợ Tân Định.

- Chú bộ đội ơi, có tiền hay lương khô gì cần đổi không?

Người bộ đội nghe tiếng rao giọng Huế, linh cảm có sự thân quen, quay lại. Sững đi một giây, người bộ đội hỏi to:

- Chị, có phải chị Hoa không?
- Chú là ai mà biết tên tui?
- Em , em Ninh của chị đây mà!
- Trời ơi, Ninh em!

Mạ tôi và cậu Ninh ôm nhau giữa chợ Tân Định, tay trong tay mà cứ ngỡ như trong mơ.

Hai mươi mốt năm chia ly, từ 1954 đến 1975, bây giờ hai chị em mới gặp lại. Đó là cuộc đoàn viên trong hàng triệu cuộc đoàn viên của cả dân tộc.
Cuộc đoàn viên nào cũng có nụ cười và nước mắt… Nước mắt của mạ lăn dài trên áo lính nhuốm bụi đường của cậu. Mắt cậu Ninh cũng đỏ hoe. Các chị tiểu thương và người đi chợ hiếu kỳ vây quanh hai chị em. Có tiếng xì xào “May phước, chiến tranh mà gặp nhau lành lặn vầy là quý hóa lắm rồi!”.

Năm 1954, mạ tôi lên chuyến tàu hỏa vào Nam, trên tay là anh Hai tôi mới sinh được vài tháng. Mạ ngồi trên tàu một mình, cô đơn giữa cảnh rộn ràng tiễn đưa. Nước mắt mạ chảy ròng nhiều đến nỗi đến nay đôi mắt ấy đã nhòe.

Một tuần trước đó, ở cái làng nhỏ ven biển Hoà Luật Nam thuộc tỉnh Quảng Bình, mấy chục gia đình binh lính chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã chộn rộn với tin đồn sắp di cư vào Nam. Ba tôi, một lính quân nhu, đã được điều vào Huế trước đó mấy ngày.

- Chị Hoa, chị đi với ai?- Một ông trung sĩ trong khu gia binh nhận ra mạ lên tiếng hỏi.

Mạ nghe hỏi càng tủi thân khóc nhiều hơn.
- Chị có đồ đạc gì không để tui đưa lên cho- Ông trung sĩ hỏi.

Mạ chỉ chiếc va ly. Ông trung sĩ chụp vội va ly quăng lên vừa kịp lúc tàu chuyển bánh. Hình ảnh cuối cùng thu vào trong mắt mạ là cậu Ninh mặc áo sơ mi trắng quần đùi chạy theo đoàn tàu gọi “chị Hoa, chị Hoa”. Hồi đó, cậu Ninh còn quá nhỏ để có thể chia sẻ nỗi buồn ly hương của mạ.

Bóng người thân, quê hương lui dần trong mắt. Năm đó mạ hai mươi hai tuổi.

Chuyến tàu hỏa đưa mạ vô tới Huế thì dừng lại. Mạ và nhiều gia đình khác được bố trí ở tạm trong khuông viên trường tiểu học Đông Ba. Mạ ôm anh Hai ngóng chờ ba. Và cuối ngày, ba cũng tìm ra chỗ mạ ở. Từ đó bắt đầu một gia đình như tổ chim trong giông tố.

Hôm đó mạ bỏ bữa chợ, đưa cậu Ninh về giới thiệu với các con của mạ. Một cậu Ninh bằng xương bằng thịt mà mạ thường nhắc trong những câu chuyện nhớ quê mạ thường kể cho anh em tôi nghe. Cậu Ninh là bộ đội lái xe Trường Sơn. Nhờ vậy mà miền Nam giải phóng tới đâu là cậu Ninh có mặt tới đó. Vô tới Huế, cậu bỏ xe chạy tìm mạ tôi ngay. Cậu qua chợ Đông Ba, lộn về Bến Ngự không gặp. Hỏi người sở tại, kẻ nói không người nói biết, bây giờ trôi giạt đâu vào Quảng Ngãi. Cậu lái xe tìm đường vô Nam mà lòng như lửa đốt. Đến Quảng Ngãi, lại chạy đi tìm. Chao, giữa chốn thiên la địa võng , lại nháo nhác buổi giao thời giải phóng, tìm người khó hơn mò kim đáy bể. Vậy mà cậu tôi không nản. Cậu vẫn giữ một niềm tin, một quyết tâm tìm cho ra mạ tôi. Vào tới Sài Gòn, áo quần còn lấm bụi đường và mùi thuốc súng, cậu Ninh lại bổ đi tìm, như thể biết chắc mạ tôi ở đâu đó, tìm là ra ngay. Nhưng Sài Gòn rộng hơn Huế, hơn Quãng Ngãi nhiều lần, cậu đi từ Hòa Hưng lên Bảy Hiền vì nghe nói cư dân miền Trung vào Nam sống tập trung ở đây nhiều, lại qua Khánh Hội về Phú Nhuận… Qua ngày thứ ba thì lòng cậu bớt hy vọng. Cậu lang thang khu chợ trời Tân Định để xem những món đồ chơi vui mắt. Rồi cậu gặp mạ tôi ở đó.

Nhưng xa cách hơn hai mươi năm, làm sao gặp là cậu nhận ra mạ ngay?

- Linh cảm! Dáng vẻ bên ngoài đã thay đổi nhiều nhưng cái dung dị bên trong con người qua nụ cười, giọng nói thì không đổi. Cậu nhận ra mạ là nhờ vậy- Cậu Ninh nói.

Từ câu nói đó, sau này chú Đoàn viết bài thơ

“Giọng Huế của mạ”:

Ba mươi năm xa quê, mạ còn nói giọng Huế
Đó là điều bình thường của mạ phải không?
Có bao điều bình thường trong đời rất đáng kể
Rất đáng nói ra, sao cứ giữ trong lòng
Tuổi con gái, mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao cay đắng pha vào chưa đục được
Sông Hương chảy xuôi dòng, mạ có thời chảy ngược
Vào miền Nam trắc trở đến giờ
Có phải vậy, mạ chóng già hơn trước
Mà dòng sông thì vẫn cứ trẻ thơ
Dẫu gì sông cũng có đôi bờ
Trong khi mạ nổi trôi vào Chu Lai, Quảng Ngãi
Mạ trôi tít vào miền Nam xa ngái
Giọng nói có là bờ để giữ mạ được đâu
Giọng nói cũng trôi qua mấy chân cầu
Va chạm đủ các âm thanh xa lạ
Đã nhiều lần làm lưỡi mạ đớn đau
Để giữ lại chút gì đừng tan rã
Giọng nói Huế quý như mền, dạ
Từ trên môi những kẻ đồng hương
Một câu chào nghe sao ấm quá
Buổi gặp nhau lưu lạc trên đường
Còn bây giờ tôi chảy với sông Hương
Trôi qua Huế ngọt ngào, thân mật
Có phải tôi trôi từ chỗ nỗi buồn
Trong lòng mạ mới vừa đổi khúc?


1984
Đến nay, đã hơn 50 năm, nước mắt của một ngày tháng Tư ấy như vẫn còn ướt trên mắt tôi.

Từ Nguyên Thạch.

April.2026

[Image: 1f494.png]
NĂM MƯƠI NĂM, PHỐ CŨ VÀ EM

Tháng Năm... em có về thăm phố cũ
  Phố bây giờ rêu phủ bóng chiều xưa
  Năm mươi năm ngỡ như vừa son phấn mới
  Cũng quên rồi chuyện được mất, thắng thua...?


Có là chân lý cuộc đời khi " được... vua, thua...giặc "
Con mắt trần gian cũng thật giả khó lường
Có nỗi buồn trên những con đường mang tên mới
Đâu đây tiếng chim cu ngói làm ta đau nhói vết thương.


  Tháng Năm... nhớ em cùng nong tằm cái kén
  Bưng chén cơm mà nghèn nghẹn thuở sắn khoai
  Muốn nguôi ngoai vậy mà vẫn hoài trăn trở
  Vì trót lỡ yêu ai đó ở tít cuối phương Đoài.


[Image: 686928511_122181224240675463_13932939966...e=69FE7E87]


Phố cũ bây giờ mùa thu không về nữa
Ta một đời còn nặng nợ với sông hồ
Vẫn cợt cười cùng con sóng nhấp nhô
Khi nhớ về bao nấm mồ viễn xứ.


  Tháng Năm...đỏ sắc cờ ngỡ màu phượng vĩ
  Kỷ niệm xưa giờ cũng chỉ là xác ve khô
  Nghe mơ hồ sóng vỗ bờ ký ức
  Thầy cũ, trường xưa...còn đâu nữa thuở học trò ?


Ngồi giữa phố mà nghe cô đơn đến lạ
Tháng Năm buồn, hạ cũng chết tự thuở nào
Những xác lá khô trên đồi cao lộng gió
Về cùng cơn mưa rào giữa giấc chiêm bao.


  Năm mươi năm... bạc màu mây đỉnh núi
  Bạc đầu ta vẫn phải cúi lạy cuộc đời
  Phố cũ và em đã hóa lời nhân ngãi
  Tạ ơn người tặng ta dầu dãi một cuộc chơi.

                                                     

Minh Thế Lê
Pages: 1 2