Chiếc váy dưới đáy hòm - Truyện Ngắn PG
#46
Tài tử "Thập diện mai phục" quy y Phật, thay đổi đời sống


Tài tử "Thập diện mai phục' - Kim Thành Vũ - sống ngang bướng, bi quan trước khi quy y tại chùa Ấn Độ năm 1997.

Sau phim Thích anh (This Is Not What I Expected, 2017), Kim Thành Vũ chưa có phim mới ra mắt, cũng vắng bóng ở sự kiện giải trí. Trên Elle, tài tử nói anh du lịch nhiều nơi trên thế giới như sa mạc, Bắc Cực, Nam Cực, vẽ truyện tranh... Trừ các buổi quảng bá phim mới, Kim Thành Vũ hiếm tham gia sự kiện giải trí, ít xuất hiện trên truyền thông. "Cuộc sống của tôi rất nhạt nhẽo. Tôi ít ra ngoài, quay phim xong là về nhà ngủ hoặc đọc sách, xem phim. Thi thoảng tôi đi ăn mỳ ở quán nhỏ gần nhà', Kim Thành Vũ kể.


[Image: kim-thanh-vu-9355-1570007153_jpg.jpg]
Kim Thành Vũ thuở đôi mươi. Anh có cha người Nhật, mẹ người Đài Loan. Ảnh: Mtime.

Trang Sohu viết ở thời các ngôi sao luôn muốn tạo sự chú ý, dạo phố, đi ăn cũng đăng lên Weibo, Kim Thành Vũ không sử dụng Weibo. "Có lẽ, ở thời đại này, chỉ còn Kim Thành Vũ là mỹ nam tĩnh lặng", trang này bình luận.


Lối sống ẩn dật của Kim Thành Vũ bắt nguồn từ việc anh quy y năm 1997 tại chùa ở Ấn Độ. Trước đây, nam diễn viên bi quan, luôn nghĩ các vấn đề theo chiều hướng xấu nhất. "Sau khi quy y, tôi có cách nhìn khác về cuộc sống. Tôi lạc quan và biết tùy duyên hơn", anh nói. Tài tử không còn bận tâm tới danh tiếng, không cảm thấy công việc áp lực. Thành công đối với anh là từ người bi quan trở thành lạc quan chứ không phải tiền bạc hay danh vọng.

[Image: kim-thanh-vu-9549-1570004385_jpg.jpg]
Vẻ lãng tử của Kim Thành Vũ  Ảnh: Mtime.


Kim Thành Vũ cảm thấy theo đạo Phật là kỳ duyên. "Hồi nhỏ tôi ngang bướng, nghịch ngợm. Mỗi khi cùng mẹ đi chùa, tôi đều chạy lăng xăng. Một lần sau khi ở chùa về, mẹ đeo vào tay tôi tràng hạt. Từ đó tôi bỗng dưng ngoan ngoãn hơn. Mẹ tôi luôn cảm thấy điều đó kỳ lạ", Kim Thành Vũ kể.

Đạo diễn Trần Khả Tân từng tiết lộ Kim Thành Vũ niệm Phật suốt một tháng. "Tôi chưa thấy người trẻ nào như cậu ấy. Thành ngôi sao khi mười mấy tuổi nhưng đến nay không tham vọng điều gì. Có thanh niên nào không thích đi chơi? Vậy mà Kim Thành Vũ không thích. Cậu ấy ít ra ngoài, tâm hồn rất bình lặng", Trần Khả Tân nói trên Takungpao.

Anh hợp tác Trần Khả Tân trong nhiều tác phẩm Võ hiệp, Đầu danh trạng, Nếu như yêu, Thích anh. Tự nhận không phải diễn viên giỏi nhưng tài tử được các đạo diễn tên tuổi lựa chọn. Ngoài Trần Khả Tân, anh đóng Thập diện mai phục (đạo diễn Trương Nghệ Mưu), Xích Bích (Ngô Vũ Sâm), Nàng rẽ trái, Chàng rẽ phải (Đỗ Kỳ Phong), Trùng Khánh sâm lâm, Đọa lạc thiên sứ (Vương Gia Vệ).

Vương Gia Vệ từng nhận xét: "Đôi mắt của Trương Quốc Vinh có câu chuyện, đôi mắt của Lương Triều Vỹ có động sâu, đôi mắt của Kim Thành Vũ có cuộc đời". 

Khi quảng bá phim năm 2017, Kim Thành Vũ bị một số khán giả nhận xét già, không còn đẹp trai như trước. Anh nói: "Đẹp trai là biểu hiện nhạt nhẽo nhất của một người đàn ông".

[Image: kim-thanh-vu-3-4576-1570004385_jpg.jpg]
Kim Thành Vũ tuổi tứ tuần. Ảnh: Mtime.


Ở lần phỏng vấn gần đây nhất, anh nói sống độc thân. "Tôi không giỏi trong chuyện tình cảm và cũng không đặt tình yêu hàng đầu. Tình yêu luôn luôn có vui vẻ lẫn buồn đau. Với tôi, tình bạn có vị trí cao hơn". Anh cho rằng yêu đương mang đến nhiều phiền toái. Trước đây, tài tử từng bị đồn hẹn hò các nữ diễn viên Rie Miyazawa, Dương Thái Ni... Anh còn vướng tin đồn yêu đồng tính song không phản hồi chuyện đời tư.

Như Anh
(VnExpress)


GNOL
May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply
#47
Thiền sư & đạo sĩ

GN - Thiền sư già và đạo sĩ trẻ cùng tu trên một quả đồi, tuy nước sông không phạm nước giếng nhưng mối quan hệ có vẻ chẳng mấy thật lòng. Với chút kiến thức có được, đạo sĩ thường hoạnh họe, luôn cố tình chơi khăm, bôi nhọ thiền sư giữa đám đông mỗi khi có dịp. Còn lão tăng thì luôn tỏ ra khiêm nhường và tôn trọng hậu bối, đặc biệt cẩn thận với tôn giáo bạn.


[Image: aminhhoa.jpg]


Dân chúng ở nơi đây cũng tự động hóa phân theo hai luồng tư tưởng, họ thường đả kích nhau để đề cao thầy mình. Điều này tạo hưng phấn cho vị đạo sĩ trẻ, nhưng lại là nỗi suy tư của thiền sư. Nhiều lúc sư muốn ra đi để trả lại sự bình yên cho địa phương dân chúng vì không muốn có sự mâu thuẫn, mất đoàn kết xảy ra. Mặc dầu là người đến trước, nhưng sư luôn cảm thấy có lỗi, mắc một món nợ với dân nơi đây. Những thân hữu, bà con dân làng thành khẩn nài nỉ lắm, sư mới chịu ở lại cùng dân, giúp dân tu tập.


Thời gian cứ trôi, cái tôi “khùng điên” to tướng của đạo sĩ ngày một nhân đôi, thiền sư thì ngày càng “cứng đạo” bởi những ma chướng cận lân.


Một hôm, nhà vua cho thỉnh hai vị cùng vào cung để xin ý kiến về bố cục trang trí cũng như phong thủy sắp đặt mọi thứ. Đạo sĩ hiên ngang thông báo tin vui đến với các tín đồ, ông ta bồn chồn muốn đi ngay và luôn nên cứ thôi thúc thiền sư nhanh chóng thu xếp đồ đạc để cùng lên đường. Trong khi đó, cũng được mời, nhưng sao thiền sư cứ bình chân như vại, không một chút suy tư dính trán, ngài vẫn cứ ung dung làm những thứ cần làm cho hôm nay và chả quan tâm gì đến chuyện ngày mai.


Nóng ruột để được vào cung yết kiến vua, đạo sĩ sang tận thảo am của vị thầy chùa già mà kêu toáng. Sau thời khóa công phu khuya, thiền sư điểm tâm nhẹ bằng củ khoai được bà lão dưới xóm cúng từ chiều qua. Mặc cho đạo sĩ cung ngâm oán khúc, hô sấm gọi mưa trước ngõ, thiền sư vẫn thế, từ từ mà xuống núi đúng giờ đã định, không chút vội vã. Thái độ đó khiến đạo sĩ vốn đã không mấy thiện ý với thiền sư lại càng thêm ghét hận.

Trên đường đi, đạo sĩ luôn chọc tức thiền sư dù không được đáp lại dẫu chỉ cái tằng hắng. Đạo sĩ nghĩ thầm:


- Với kiến thức của ta thì hỏi trên thiên văn, vấn dưới địa lý đều là chuyện nhỏ, vả lại phong thủy tướng số chả phải là món chuyên của ta hay sao. Hoàng thượng chắc có ý tốt với ta nên mới cố ý mời thêm ông lão thầy chùa đi xem, đến đó rồi thì ai hiền ai ngu tự khắc biết, ta sẽ cho ông ta không còn chỗ nào trốn núp.


Đạo sĩ cứ hỷ hoan với dòng suy nghĩ đi trước của mình.


Mặc cho đang đi với ai, đi làm việc gì, vị thiền sư đều rất thận trọng, ngài khoan thai, hình như đi chỉ để mà đi. Hành trang của ngài là bộ y rách với thêm một túi hạt giống hoa cúc vàng trên núi. Đi đến đâu, ngài cũng làm sạch đẹp con đường mình vừa qua, vừa đi vừa rải những hạt giống dọc ven đường.


Đạo sĩ nghĩ đến việc làm hài lòng vua, khi được thánh thượng ban lộc rồi thì dân chúng sẽ tự động theo mình, cứ thế mà thái độ kiêu ngạo với mọi người. Về phần thiền sư, ngài quan niệm chủ đạo vẫn lấy dân làm gốc, quan thì nhất thời còn dân thì vạn đại, quan cũng là dân, sống là sống với dân, không tách dân ra được. Tâm niệm như thế mà đến đâu, ngài cũng được dân chúng kính mến.


Cuối cùng, hai vị cũng vào đến cung với sự đón tiếp niềm nở, kính trọng của vua cùng bá quan văn võ. Sau mọi thứ chào hỏi, bố trí chỗ ăn ở đặc biệt cho hai vị thượng khách, nhà vua đi vào vấn đề chính. Vua dẫn hai vị đi đến những chỗ đang băn khoăn, cần sự giúp đỡ để xin hảo kiến của hai vị tôn đức. Ở đây toàn chứa những thứ hảo hạng nhất trên đời mà người bình thường chắc chắn sẽ không bao giờ nghĩ đến được, vượt khỏi ngưỡng suy nghĩ của thường dân.


Thấy đức vua khiêm tốn quá mức, đạo sĩ ta bắt đầu lên mặt, ra vẻ có giá, tự nghĩ tất cả quần thần trong nước ngoài ta thì không ai có cửa để làm ổn chuyện này. Ông ta khoác lác, phô trương tài nghệ của mình, chỉ trỏ dựng cái này ở bên này, đẩy cái kia vào góc kia,… mấy chốc mà mọi thứ như muốn đảo hết cả lên.


Trong khi đó, vị thiền sư lặng lẽ một mình đi khắp các phòng ốc, ngài phát hiện ra ở đây cũng có chứa đựng rất nhiều thứ hữu ích, bổ túc cho kiến thức lâu nay còn thiếu hụt. Thay vì phải căng não để tìm cái chưa hoàn hảo để thay đổi như vị đạo sĩ kia thì thầy sống cuộc sống thư thái không khác chi mấy ở thảo am của mình.


Sau một tuần vào cung, hai vị cũng hài lòng với công việc đóng góp của mình. Xong thì biết bao giờ cho xong, nhưng hiện tại như thế là coi như ổn định. Hai vị đều được vua quan tâm hết mức, tấm tắc khen ngợi và chuẩn bị phần quà khủng để hậu tạ. Đạo sĩ vểnh mặt lên trời hầu muốn vùi chôn thành quả không đáng bao của thiền sư, mặc cho lão tăng vỗ tay hết lời khen ngợi tài nghệ của ông ta.


Quần thần có mặt rất đông, dân chúng cũng thế, họ chờ đợi lời bình của đấng thiên hạ chi nhất. Phần lớn cho rằng đạo sĩ là người đáng được tôn kính bởi tài năng và sự nhiệt huyết.


Vua rằng:


- Thực ra quả nhân cho triệu thỉnh hai vị vào cung không phải để giúp trẫm bài trí lại mọi thứ, ta chỉ muốn thân cận vị thiện tri thức, bậc trưởng lão mà thôi. Bố cục trong không gian này là do tiên đế để lại, ta không muốn đụng chạm và thay đổi chúng đi bởi sự kính trọng đối với tiền nhân. Suy cho cùng thì nó có lộn xộn hay không là do tâm của chúng ta, người lộn xộn trong tâm thì sẽ cố gắng sắp xếp lại các thứ bên ngoài cho phù hợp. Nhưng làm sao có sự chính xác tuyệt đối trong khi cái nhìn của mỗi người là khác nhau và luôn tương đối.


Sao cứ lăng xăng chạy đua với nhân thế, trong khi “tu” là việc chính của người tu cơ mà. Ngoài tu sửa mình ra thì mọi thứ còn lại ngoài thân đều không nhất thiết phải sửa, đừng tác động lên cái gọi là tự nhiên đó dù tốt hay xấu, bởi tốt xấu là việc của thợ.


Trẫm nghe hai vị đều có danh tiếng, đều là bậc thầy lãnh đạo tinh thần của nhân dân nên muốn mời chư vị vào để học hỏi cách an tâm cho quần chúng. Và rồi trẫm hiểu được việc an dân thì trước tiên phải an nơi bản thân mình trước, nếu chưa có nội lực bình an thì làm sao cho người khác an được. Đây há chẳng phải là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hay sao.


Khi có trong mình công phu thâm hậu thì đi đến đâu cũng thấy an lạc, trẫm không học nhiều nhưng biết đó là câu “tùy sở trú xứ thường an lạc” mà trong nhà Phật thường nhắc đến.


Không biết hai vị tu hành ở bổn xứ có an nhiên, nhưng khi vào đây thì đã trả lời với thanh thiên là một an và một không an.


Sống thực với bản thân mình là điều quan trọng, bởi vì sống là sống cho ta chứ không phải vì ai, cho một ai. Vậy cho nên, tội gì mà vì một ai đó, thế lực nào đó mà làm thay đổi cái lý tưởng sống, cái niềm vui sống của chính mình. Đánh mất chính mình là sự mất mát lớn nhất trong cuộc đời, là thứ mà mất đi rồi thì rất khó tìm lại được.


Vua ho lớn một tiếng và hỏi giữa quần thần:


- Là nhà lãnh đạo, nếu không từ dân mà lên thì từ đâu mà chui ra?

- Là nhà lãnh đạo mà không sống với dân, do dân và vì dân thì sống với ai?


Tất cả im lặng như tờ, không một tiếng thở mạnh.


Vua nghiêm nghị phê bình đạo sĩ rồi quay về phía thiền sư làm lễ sát đất và đứng lên tuyên bố:


- Đây là thầy của ta, là quốc sư.


Chỉ có con người bình an tuyệt vời này mới giúp ta an hòa lòng dân, là người vô sự giữa cuộc đời, đã làm tất cả những việc cần làm.

Truyện ngắn của Tuệ Quang Minh Đăng

May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply
#48
Giấc mơ cánh cò

GN - Chiều đông, gió se sắt. Mấy khóm chuối ố vàng vì những ngày mưa. Chị ngồi bên cửa sổ nhìn ra hè, cách vườn chuối chừng vài mét là cánh đồng xanh cỏ. Chúng rộng thênh thang. Một vài cánh cò điểm lên nền xanh gợi lên nỗi buồn sâu thẳm. Chị nhớ nhà, lâu quá không về bên ấy. Khi làm xong căn nhà của mình thì chị cũng hết tiền, vì thế chị ít về nhà mẹ đẻ. Mọi bận về nhà, chị đều mua hoa cắm lên bàn, mua bánh lễ và quà cáp cho mấy đứa cháu.

Quen với những thứ đó, giờ đi tay không sao đành. Đến lúc này chị nhận ra vật chất quyết định khá nhiều thứ ở đời, kể cả tình thương. Nhưng chẳng lẽ, cứ như thế. Một vài ngày tới, thậm chí tháng này chị chẳng lấy đâu ra tiền. Thử một lần đi tay không. Chị mở cánh cửa chính, mất một hồi rất lâu vì trước đó chị khóa chặt nó không muốn ai vào nhà. Chạy xe mất hơn năm phút chị đã đứng trước bàn thờ mẹ, chị đã khóc khi thấy những bông cúc tàn rớt xuống trên bàn.


[Image: canhco.jpg]


Vẫn tựa cửa nhìn ra cánh đồng trước ngôi nhà mẹ. Chị nhớ rất rõ, khu vườn ngày xưa mẹ hay quét lá, cánh đồng có những con bò gặm cỏ, lũ trẻ tranh nhau mùn dế cuối mùa. Chính ở đó ghi lại nhiều ký ức lúc chị còn trẻ con. Đa số là tấm ruộng, mẹ cùng làm cỏ với mấy chị em gái trong nhà. Không biết khi nào có thể gặp lại được mẹ, chị thoáng nghĩ đến. Có phép nhiệm mầu nào không, nếu có, chị sẵn sàng đánh đổi. Ước mơ rất xa xăm, nhưng biết đâu có thể. Người ta nói, có duyên gặp lại. Và chị nghĩ rằng chị và mẹ chị có duyên. Chí ít trong mối tương quan, hai người cùng cầm tinh một con vật, chỉ cách nhau ba giáp. Những người cùng tuổi thường cảm nhận tốt về nhau và thường hiểu nhau hơn. Suy nghĩ ấy khiến chị khóc thêm lần nữa. Ngôi nhà trống không, em trai chị đi làm, mấy đứa cháu đến trường nhưng nhà vẫn để cửa, lỡ mẹ có về không có đường vô.

Mưa lăn phăn ướt trên từng ngọn lá. Chị sửa soạn ra về thì trời mưa to. Lục trong thùng giấy cũ có chiếc áo mưa màu tím. Chị biết chắc đó là chiếc áo mưa của mẹ chị. Chiếc áo dài tầm mét rưỡi, cứ mưa là chị nhớ dáng mẹ thấp thỏm đi về, tay xách làn mang thức ăn cho cả đàn con háu ăn. Những lúc đó chị thấy mẹ rất vui. Cảm giác hạnh phúc của người mẹ khi nhìn những đứa con ăn khen ngon tíu tít. Đứng nhìn lên bàn thờ rồi chị mỉm cười. Có thể, đây cũng là duyên phận. Khi chiếc áo mưa để gần hai năm vẫn còn thơm mùi mồ hôi mẹ và nó được tìm thấy ngay trong một chiều mưa. Chị đưa tay vuốt lên tấm hình mẹ, nỗi nhớ vỡ òa, chị thì thầm, mẹ ơi, con đã có thai.

Chị có đời chồng dang dở, thêm một người chồng hờ hững nên đứa con gần tháng tuổi nằm trong bụng khiến chị đắn đo. Chị nhớ câu nói của anh, chuyện đó dễ giải quyết mà. Nhanh, nhẹ và như chuyện quyết định không liên quan đến sinh mệnh con người. Cơ bản thế, chị thấy khinh ghét và sự tổn thương cộng với lo lắng khiến chị cũng trù trừ. Có để đứa con này hay không? Đẻ lấy gì nuôi. Chị thức trắng mấy đêm, rồi đếm, mẹ chị đẻ hơn chục người con, chị là đứa thứ mười hai. Sao mẹ có thể giỏi đến vậy. Điều này khiến chị suy nghĩ, và cuộc sống hiện đại khiến chị trù trừ. Chẳng biết phải làm sao. Chị điện thoại cho em trai mình, nó là đứa có thể giải quyết cho chị một con đường khi chị gặp khó khăn. Em trai chị bảo, con cái không trù trừ, có duyên hai người mới tìm được nhau. Đừng có làm điều dại dột…

Đêm rằm, trăng trôi trên bầu trời. Có thể nhìn thấy những đám mây trắng mênh mang trên trời đông xanh biếc. Một đêm rất hiếm hoi, chị ngồi nhìn trăng. Chẳng biết có mẹ ở trên ấy không, chị nghe người ta bảo, người chết về trời. Ngồi nhìn mỏi mắt rồi cuối cùng chị cũng bắt gặp hình ảnh thân quen của mẹ trên bầu trời đầy trăng. Không hiểu sao, chị thấy mẹ buồn. Nụ cười lúng liếng ngày xưa không còn nữa. Hình ảnh đó lướt ngang và chị chỉ kịp với tay thì đứa con gái ba tuổi kêu chị vào ngủ. Con trai chị, nó hơn hai mươi, tối nào cũng qua nhà hàng xóm đợi con bé lên lớp mười hai rồi sau đó bỏ học. Và một hôn lễ diễn ra. Chẳng biết hạnh phúc hay khổ đau. Tạm thời trước mắt chị thấy hai đứa thương nhau lắm, mặc dù chúng không hợp tuổi.

Băng ca, một vài dụng cụ inox kêu loảng xoảng. Chị nhắm nghiền mắt. Hai tay run bần bật. Chị có suy nghĩ lại không? Cô y tá hỏi. Chị không trả lời. Không nghĩ đến mình, chị hỏi cô y tá.

- Cô làm bao nhiêu trường hợp rồi.
- Không nhớ, mà điều đó có ý nghĩa gì với chị.
- Sao cô ác thế.
- Tôi không biết. Có thể kiếp sau tôi sẽ chẳng tìm cho mình được một người mẹ.

Một cơn đau như rút, chị lặng người đi. Giờ đó chị bắt đầu dấy lên sự tội lỗi. Nhìn chiếc bóng đèn trắng xóa, nước mắt chị chảy. Mẹ xin lỗi con. Trong giờ đó chị thấy đứa bé mỉm cười, nụ cười của mẹ chị. Chị thảng thốt ngồi chồm dậy.

- Cô làm rồi ư.
- Xong rồi.
- Sao cô không hỏi tôi thêm lần nữa.
- Tôi không biết, đứa bé và chị đã lỡ duyên.
- Nếu đứa bé, là mẹ tôi thì sao?
- Tôi không biết, tôi không phải là thầy tướng số.

Đêm rằm, không có trăng. Bầu trời đen kịt, chỉ có đốm lửa từ cây nhang hiện lên một chấm đỏ. Có nhiều điều không thể trở lại để thực hiện nó, chị lẩm nhẩm lời cầu xin tha thứ. Những đêm rằm như thế cứ trôi đi, chị chờ trăng, không thấy. Trời cũng chẳng mưa, trăng bỏ đi từ ngày đó. Chị hay mơ về mẹ chị, đoạn hai giờ sáng. Mẹ đi, mắt ngước lên trời, kiểu sợ cúi xuống nước mắt sẽ rơi.

Cuối mùa thu năm sau, trăng tròn xuất hiện. Chị nhìn trời, lòng nhẹ nhõm hẳn lên. Người chồng hờ muốn đặt vào người chị những tình yêu, chị từ chối. Cảm giác về đàn ông trong chị đã mất. Khi nghĩ về một bào thai khác sẽ hình thành khiến chị run rẩy. Chị bảo với anh, đừng trở về nhà chị, hoặc giả anh có về thì nói để chị còn ra đi.

Từ sau anh không đến nhà, đứa con trai riêng của chị lấy vợ anh cũng không tới. Con gái anh lấy chồng cũng không. Giờ nhà vắng, chị ở một mình. Thi thoảng con chị về nhà, rồi nó đi làm ăn xa. Chị nuôi một đàn gà để chăm cho đỡ buồn. Chúng phát triển nhanh về số lượng. Nhìn đàn gà con tíu tít bên mẹ, chị lại mủi lòng nghĩ về đứa bé. Gạt nước mắt, biết bao nhiêu lời xin lỗi. Chỉ là đơn phương, đứa trẻ thoát ra từ bụng chị giờ có thể là con của một người đàn bà khác, hoặc nó phải chờ thêm vài chục năm nữa để tìm cho mình một người mẹ. Chị thở dài nhìn cánh đồng. Bất cứ mùa nào trong năm thì cánh đồng đều tạo nên sự trống trải vô cùng tận. Chiều, chị xếp một ít áo quần trở về nhà mẹ đẻ. Chị nói với đứa em trai, chị sẽ ở lại đây vài ngày.

Những đêm trắng mùa thu, chị không ngủ được. Điệu nhạc trong ngôi nhà này mấy chục năm không thay đổi. Đó là những bài hát được ghi vào thẻ nhớ của mẹ chị. Em trai chị giờ cũng đã già. Nếu ngồi cạnh chị ắt nó sẽ già hơn. Đôi lần chị tự hỏi, nó chẳng đáng tội gì sao tóc bạc trắng như thế. Rồi chị lại nghĩ, có lẽ có, nhưng chị không biết. Hoặc sự yêu thương của nó đối với mẹ cũng làm nên tội với lòng mình, với tuổi xuân của nó. Những ngày ở đây, chị chăm sóc những khóm hồng, của mẹ chị trồng và đứa em dâu nhân giống từ đó. Cả khu vườn hoa hồng, giống hoa cũ xưa, mòn ký ức về mẹ. Đứa em trai thỉnh thoảng cười buồn, có lần hỏi chị. Không biết giờ mẹ ở đâu, không biết mẹ đã tìm được người để gửi duyên chưa… chị lặng im nhìn nó rồi nhìn trời. Không dám nói suy nghĩ thoáng qua trong đầu mình, về sự lỡ duyên.

Chị rủ em trai đi xem bói đầu năm. Nhà thầy tướng đông nghịt người, em trai lại đèo chị về. Đến giữa đường thì nó dừng xe hỏi.

- Sao chị không đợi?
- Nhiều người quen quá.
- Có sao đâu.
- Thôi về đi cậu, chiều hẵng sang.

Chiều muộn, chị sang nhà thầy tướng. Ngôi nhà vắng tênh, thầy nằm ốm ở giường. Sao có thể nhanh như thế. Mới hồi sáng thầy còn ngồi phán thân phận của mọi người. Như hiểu được sự thắc mắc, thầy nói:

- Có nhiều người còn chết trong nháy mắt, tôi ốm đã là may.
- Thưa thầy…
- Nếu chị để cái thai, nó sinh hợp tuổi chị. Mà người đó có duyên với chị, tìm quay quắt mới nhanh được như thế.
- Thầy…
- Chị cứ khóc, có thể đó là người đã từng yêu thương chị nhất cuộc đời mình…

Sau câu đó thầy tướng mất. Chị nắm lấy tay thầy mà khóc đến khi bàn tay nguội lạnh. Người làng đến đông, chị ra về, nước mắt vẫn nhòe mi. Họ đoán đủ thứ chuyện ở đời. Kể cả chuyện tình duyên của thầy. Nghe đồn thầy tướng từng yêu một cô gái nào đó nhưng hai người lỡ duyên, cô gái lấy chồng, thầy bỏ xứ đi.

Trăng cứ trôi mênh mang từ mùa này sang mùa khác. Cánh đồng hiện lên dưới trăng bằng cả một khoảng rộng lớn mênh mông đến không ngờ. Chị thường chốt cửa chính lúc sáu giờ tối và mở chúng lúc hai giờ sáng. Đó chỉ là một thói quen. Chị ít ngủ, giấc ngủ cứ nhập nhằng bằng những giấc mơ trở đi trở lại về một người đàn bà lang thang trên cánh đồng, một đứa bé thỉnh thoảng chới với cùng với người đàn bà. Ai là con chị, ai là mẹ chị. Cánh đồng cũng chắp vá vào giấc mơ, bằng những cánh cò lệch lạc, bay chao nghiêng rồi rớt tõm xuống đám cỏ xanh, lúc chị giật thót mình tỉnh giấc...


Truyện ngắn của Hoàng Hải Lâm
May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply
#49
Thiền sư & đạo sĩ

GN - Thiền sư già và đạo sĩ trẻ cùng tu trên một quả đồi, tuy nước sông không phạm nước giếng nhưng mối quan hệ có vẻ chẳng mấy thật lòng. Với chút kiến thức có được, đạo sĩ thường hoạnh họe, luôn cố tình chơi khăm, bôi nhọ thiền sư giữa đám đông mỗi khi có dịp. Còn lão tăng thì luôn tỏ ra khiêm nhường và tôn trọng hậu bối, đặc biệt cẩn thận với tôn giáo bạn.


[Image: aminhhoa.jpg]


Dân chúng ở nơi đây cũng tự động hóa phân theo hai luồng tư tưởng, họ thường đả kích nhau để đề cao thầy mình. Điều này tạo hưng phấn cho vị đạo sĩ trẻ, nhưng lại là nỗi suy tư của thiền sư. Nhiều lúc sư muốn ra đi để trả lại sự bình yên cho địa phương dân chúng vì không muốn có sự mâu thuẫn, mất đoàn kết xảy ra. Mặc dầu là người đến trước, nhưng sư luôn cảm thấy có lỗi, mắc một món nợ với dân nơi đây. Những thân hữu, bà con dân làng thành khẩn nài nỉ lắm, sư mới chịu ở lại cùng dân, giúp dân tu tập.


Thời gian cứ trôi, cái tôi “khùng điên” to tướng của đạo sĩ ngày một nhân đôi, thiền sư thì ngày càng “cứng đạo” bởi những ma chướng cận lân.


Một hôm, nhà vua cho thỉnh hai vị cùng vào cung để xin ý kiến về bố cục trang trí cũng như phong thủy sắp đặt mọi thứ. Đạo sĩ hiên ngang thông báo tin vui đến với các tín đồ, ông ta bồn chồn muốn đi ngay và luôn nên cứ thôi thúc thiền sư nhanh chóng thu xếp đồ đạc để cùng lên đường. Trong khi đó, cũng được mời, nhưng sao thiền sư cứ bình chân như vại, không một chút suy tư dính trán, ngài vẫn cứ ung dung làm những thứ cần làm cho hôm nay và chả quan tâm gì đến chuyện ngày mai.


Nóng ruột để được vào cung yết kiến vua, đạo sĩ sang tận thảo am của vị thầy chùa già mà kêu toáng. Sau thời khóa công phu khuya, thiền sư điểm tâm nhẹ bằng củ khoai được bà lão dưới xóm cúng từ chiều qua. Mặc cho đạo sĩ cung ngâm oán khúc, hô sấm gọi mưa trước ngõ, thiền sư vẫn thế, từ từ mà xuống núi đúng giờ đã định, không chút vội vã. Thái độ đó khiến đạo sĩ vốn đã không mấy thiện ý với thiền sư lại càng thêm ghét hận.

Trên đường đi, đạo sĩ luôn chọc tức thiền sư dù không được đáp lại dẫu chỉ cái tằng hắng. Đạo sĩ nghĩ thầm:


- Với kiến thức của ta thì hỏi trên thiên văn, vấn dưới địa lý đều là chuyện nhỏ, vả lại phong thủy tướng số chả phải là món chuyên của ta hay sao. Hoàng thượng chắc có ý tốt với ta nên mới cố ý mời thêm ông lão thầy chùa đi xem, đến đó rồi thì ai hiền ai ngu tự khắc biết, ta sẽ cho ông ta không còn chỗ nào trốn núp.


Đạo sĩ cứ hỷ hoan với dòng suy nghĩ đi trước của mình.


Mặc cho đang đi với ai, đi làm việc gì, vị thiền sư đều rất thận trọng, ngài khoan thai, hình như đi chỉ để mà đi. Hành trang của ngài là bộ y rách với thêm một túi hạt giống hoa cúc vàng trên núi. Đi đến đâu, ngài cũng làm sạch đẹp con đường mình vừa qua, vừa đi vừa rải những hạt giống dọc ven đường.


Đạo sĩ nghĩ đến việc làm hài lòng vua, khi được thánh thượng ban lộc rồi thì dân chúng sẽ tự động theo mình, cứ thế mà thái độ kiêu ngạo với mọi người. Về phần thiền sư, ngài quan niệm chủ đạo vẫn lấy dân làm gốc, quan thì nhất thời còn dân thì vạn đại, quan cũng là dân, sống là sống với dân, không tách dân ra được. Tâm niệm như thế mà đến đâu, ngài cũng được dân chúng kính mến.


Cuối cùng, hai vị cũng vào đến cung với sự đón tiếp niềm nở, kính trọng của vua cùng bá quan văn võ. Sau mọi thứ chào hỏi, bố trí chỗ ăn ở đặc biệt cho hai vị thượng khách, nhà vua đi vào vấn đề chính. Vua dẫn hai vị đi đến những chỗ đang băn khoăn, cần sự giúp đỡ để xin hảo kiến của hai vị tôn đức. Ở đây toàn chứa những thứ hảo hạng nhất trên đời mà người bình thường chắc chắn sẽ không bao giờ nghĩ đến được, vượt khỏi ngưỡng suy nghĩ của thường dân.


Thấy đức vua khiêm tốn quá mức, đạo sĩ ta bắt đầu lên mặt, ra vẻ có giá, tự nghĩ tất cả quần thần trong nước ngoài ta thì không ai có cửa để làm ổn chuyện này. Ông ta khoác lác, phô trương tài nghệ của mình, chỉ trỏ dựng cái này ở bên này, đẩy cái kia vào góc kia,… mấy chốc mà mọi thứ như muốn đảo hết cả lên.


Trong khi đó, vị thiền sư lặng lẽ một mình đi khắp các phòng ốc, ngài phát hiện ra ở đây cũng có chứa đựng rất nhiều thứ hữu ích, bổ túc cho kiến thức lâu nay còn thiếu hụt. Thay vì phải căng não để tìm cái chưa hoàn hảo để thay đổi như vị đạo sĩ kia thì thầy sống cuộc sống thư thái không khác chi mấy ở thảo am của mình.


Sau một tuần vào cung, hai vị cũng hài lòng với công việc đóng góp của mình. Xong thì biết bao giờ cho xong, nhưng hiện tại như thế là coi như ổn định. Hai vị đều được vua quan tâm hết mức, tấm tắc khen ngợi và chuẩn bị phần quà khủng để hậu tạ. Đạo sĩ vểnh mặt lên trời hầu muốn vùi chôn thành quả không đáng bao của thiền sư, mặc cho lão tăng vỗ tay hết lời khen ngợi tài nghệ của ông ta.


Quần thần có mặt rất đông, dân chúng cũng thế, họ chờ đợi lời bình của đấng thiên hạ chi nhất. Phần lớn cho rằng đạo sĩ là người đáng được tôn kính bởi tài năng và sự nhiệt huyết.


Vua rằng:


- Thực ra quả nhân cho triệu thỉnh hai vị vào cung không phải để giúp trẫm bài trí lại mọi thứ, ta chỉ muốn thân cận vị thiện tri thức, bậc trưởng lão mà thôi. Bố cục trong không gian này là do tiên đế để lại, ta không muốn đụng chạm và thay đổi chúng đi bởi sự kính trọng đối với tiền nhân. Suy cho cùng thì nó có lộn xộn hay không là do tâm của chúng ta, người lộn xộn trong tâm thì sẽ cố gắng sắp xếp lại các thứ bên ngoài cho phù hợp. Nhưng làm sao có sự chính xác tuyệt đối trong khi cái nhìn của mỗi người là khác nhau và luôn tương đối.


Sao cứ lăng xăng chạy đua với nhân thế, trong khi “tu” là việc chính của người tu cơ mà. Ngoài tu sửa mình ra thì mọi thứ còn lại ngoài thân đều không nhất thiết phải sửa, đừng tác động lên cái gọi là tự nhiên đó dù tốt hay xấu, bởi tốt xấu là việc của thợ.


Trẫm nghe hai vị đều có danh tiếng, đều là bậc thầy lãnh đạo tinh thần của nhân dân nên muốn mời chư vị vào để học hỏi cách an tâm cho quần chúng. Và rồi trẫm hiểu được việc an dân thì trước tiên phải an nơi bản thân mình trước, nếu chưa có nội lực bình an thì làm sao cho người khác an được. Đây há chẳng phải là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hay sao.


Khi có trong mình công phu thâm hậu thì đi đến đâu cũng thấy an lạc, trẫm không học nhiều nhưng biết đó là câu “tùy sở trú xứ thường an lạc” mà trong nhà Phật thường nhắc đến.


Không biết hai vị tu hành ở bổn xứ có an nhiên, nhưng khi vào đây thì đã trả lời với thanh thiên là một an và một không an.


Sống thực với bản thân mình là điều quan trọng, bởi vì sống là sống cho ta chứ không phải vì ai, cho một ai. Vậy cho nên, tội gì mà vì một ai đó, thế lực nào đó mà làm thay đổi cái lý tưởng sống, cái niềm vui sống của chính mình. Đánh mất chính mình là sự mất mát lớn nhất trong cuộc đời, là thứ mà mất đi rồi thì rất khó tìm lại được.


Vua ho lớn một tiếng và hỏi giữa quần thần:


- Là nhà lãnh đạo, nếu không từ dân mà lên thì từ đâu mà chui ra?

- Là nhà lãnh đạo mà không sống với dân, do dân và vì dân thì sống với ai?


Tất cả im lặng như tờ, không một tiếng thở mạnh.


Vua nghiêm nghị phê bình đạo sĩ rồi quay về phía thiền sư làm lễ sát đất và đứng lên tuyên bố:


- Đây là thầy của ta, là quốc sư.


Chỉ có con người bình an tuyệt vời này mới giúp ta an hòa lòng dân, là người vô sự giữa cuộc đời, đã làm tất cả những việc cần làm.

Truyện ngắn của Tuệ Quang Minh Đăng

May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply
#50
Kỷ vật

GN - Kỷ vật chắc phải là một thứ gì đó ghê gớm lắm, nếu không đẹp thần kỳ thì chí ít cũng phải nguyên vẹn tròn trịa chứ. Không hẳn, như trong câu chuyện này, kỷ vật là chiếc vòng kiềng đeo cổ bằng vàng bị gãy.


Chiếc vòng kiềng xuất hiện trong một đám cưới làng quê cách đây hai mươi năm. Người đến dự trầm trồ khi mẹ chồng năm mươi tuổi bật nắp hộp xốp bọc nhung màu đỏ tía, lấy chiếc vòng đeo vào cổ cô con dâu. Chỉ trong tích tắc, cái vòng gãy đôi.


[Image: vongkieng.jpg]
Ảnh minh họa


Bà kể lại một cách ráo hoảnh về giây phút trao quà cưới ấy, ngữ điệu bình thường nhạt nhòa của một người đứt hơi. Có lẽ vì ngay cái tích tắc ấy bà đã chết, theo một nghĩa nào đó. Mấy trăm cặp mắt trong tiệc cưới đã vày vò một phụ nữ năm mươi trên sân khấu. Có chừng đó việc mà làm không xong, huống chi sống kiếp đời với dâu con. 


Đám cưới to nhất vùng hóa thành cái đám thừa mứa, vô duyên. Không có những gã đàn ông loạng choạng rớt bờ chúi bụi, họ nhạt mồm nhạt miệng ra về. Chỉ còn ba người say: ba mẹ chú rể và chú rể.


Ông già năm mươi tuổi, một tay đào vàng bụi bặm, trước đấy hai ngày quyết tâm từ giã núi rừng, gom một cú vét cuối cùng thổi được cái vòng kiềng làm quà cưới con trai, giờ cũng sõng soài trên thềm hiên. Chú rể nhận những ly rượu chúc mừng, hay chia buồn tiếc nuối, không kịp bắt tay tiễn bạn đã úp mặt xuống bàn. Bà năm mươi cả đời không đụng giọt rượu, giờ chỉ chuốc dăm chén lảo đảo rớt xuống giường nặng trịch.


Chỉ cô dâu không say, cô bần thần ngồi góc nhà, ngỡ đám đông đưa dâu không tới được nhà trai mà ào tới chỗ tòa án, có hai người gật đầu đồng ý tự nguyện ly hôn. Nhẹ nhàng êm ái vì không có tài sản gì nhiều. À, đúng ra là có một cái vòng gãy đôi có thể chia rất dễ. Nhưng cái vòng đó thất lạc đâu rồi không ai nhớ ra nên coi như khỏi chia. Hay cô dâu tưởng tượng cái đám rước linh đình đi qua nghĩa trang thì mắc kẹt, một người chết trẻ nằm trong quan tài, một người trẻ khác là vợ hoặc chồng bần thần gục xuống. Gãy gọn một tiếng kêu như chiếc đòn gánh bị đứt giữa đường.


Chính xác hai cảnh tượng này cô thấp thoáng thấy được trong mắt những người đi dự đám cưới. Gãy kiềng, rơi nhẫn, tuột khuyên / trắng tang đứt gánh, chia riêng nẻo đường. Giá mà uống được, thì cô cũng gắng nuốt những chén cay cho đến say.


Sáng hôm sau, những người say đã tỉnh, chợt thấy mình cần phải bù đắp cho một người mới có mặt trong gia đình này. Ông nói dậy đi bây, cũng phải sống đường hoàng tử tế cho người ta biết.


Bà chứng minh tình thương bù đắp của mình đầu tiên bằng cách trút tất cả phong bì mừng cưới vào một cái túi mang vào cho con dâu. Mẹ cho cả, để dành vốn làm ăn.


Cô dâu ước chừng cái túi tiền có thể làm được chục cái vòng kiềng khác. Nhưng chục cái vòng vẹn nguyên sau đám cưới không giá trị bằng một cái vòng lúc ra mắt tiệc tùng. Tại vì chục cái vòng đó không được sự chứng kiến của người đời. Bao nhiêu cái đám hỷ người ta gắng sắm vàng bạc chỉ để chưng diện trên sân khấu cho họ hàng đôi bên, cho bạn bè đôi lứa trầm trồ. Cô bẽ bàng, tiền không mua được danh dự, không mua được điều tiếng thiên hạ.


Ngôi nhà rộng thênh, bốn người ở thoải mái. Thế mà có cảm giác mọi sự chuyển động đều dè dặt, mọi chuyện đi đứng đều có chút khép nép co mình lại. Sợ những va chạm có thể làm sứt một góc tường, nứt một cái chậu nhựa, vỡ một cái bình sứ.


Kiêng dè đến mấy cũng có lúc sơ sểnh. Lần chị pha ấm trà cho bố chồng, vụng tay tuột cả ấm xuống nền nhà. Mẹ chồng luống cuống chạy vào vội vàng gom những mảnh sành như kiểu chính bà là người làm vỡ. Cái ấm này ông rất quý, phải nhờ một người quen mang từ bên Tàu về.


Thôi vỡ rồi thì mua lại cái khác, ông nói không chút tiếc nuối, đồ vật nó cũng đến lúc mỏi mệt rệu rã, can hại chi phải bận tâm.


Anh giã nát mấy lá khoai lang non đắp vào tay vợ cho đỡ phỏng, xuýt xoa an ủi chắc chỉ bị nhẹ thôi, từ nay những thứ nóng và nặng cứ để anh làm.


Dâu mới về nhà, việc bếp núc đúng ra phải kham tất, nhưng bà đã giành hết. Mẹ làm quen rồi, con cứ ngủ cho đủ giấc. Đi chợ cũng chỉ mình mẹ chồng. Chị chạy theo xin đi cùng. Bà bảo dâu mới về làng ra chợ người ta nhòm ngó, không hay.


Một tháng sau ngày cưới, người ta chắc chưa quên cảnh bà mẹ vụng về trên sân khấu. Đời lạ lắm, cái cầu bắc qua sông bị gãy xôn xao ba bữa hết chuyện, cái đập nước mới xây xong đã nứt toác TV phản ánh một hai lượt rồi thôi. Người ta không nhớ qua được ngày thứ tư. Thế nhưng cái đám cưới miệt quê xứ này thì nhớ dai, ăn món gì ngon dở ra sao được bàn tán cả tháng trời. Vàng cho bao nhiêu khâu bao nhiêu lượng khách ước tính được hết. Ít thì bị gièm pha túng bấn, nhiều bị chê cười khoe mẽ. Và chuyện bất trắc trong đám cưới thì khó nguôi được trong một năm, nhiều năm sau.


Chị bảo với chồng nhà mình ai cũng như đang đóng phim, cứ diễn diễn thế nào ấy.


Chồng cười, sướng nhất em rồi, được mẹ chồng cưng như nâng trứng. Câu nói của chồng khiến chị bật cười theo. Chính anh cũng vừa nói như lời thoại trên truyền hình.


Một năm sau ngày cưới, chị sinh thằng cu kháu khỉnh. Bà tỉa cành dâu làm chuỗi cườm cho thằng cu đeo tránh gió. Bà mua len đan áo ấm mũ đông.


Chị khen mẹ khéo tay quá. Mấy cái việc nữ công bà đâu có tệ, ngon nữa là đằng khác, không hiểu sao cái lần đó trao kiềng bà sơ ý thế thôi. Ngắm thằng cháu xinh xắn, bà mừng. Ít ra tới lúc này chưa có chuyện gì hệ trọng xảy ra với con trai con dâu.


Vợ chồng trẻ đôi khi cũng xích mích to tiếng qua lại. Bà xông vào can ngăn, khuyên bên này dỗ bên kia. Hai đứa đánh mẹ đi cho đỡ tức. Bà hét lên, cứ như chính bà là nguyên nhân gây ra chuyện. Bà lại nghĩ dại, có khi nào vì một lần căng thẳng nào đó mà xảy ra chuyện tan đàn xẻ đám. Nghĩ như vậy, bà thấy hiện lên hình ảnh chiếc vòng bất trắc ngày đám cưới. Lúc đó, người ta sẽ thỏa mãn cái sự nghi ngờ bấy lâu, rằng dân gian bày chuyện cũng có căn cơ, sự trời sắp đặt có báo hiệu hết, đừng đùa.


Tới tối vợ chồng đã làm lành được với nhau, đã cười nói hú hí trong buồng còn bà vẫn day dứt. Ông động viên bà, vợ chồng trẻ nông nổi là chuyện thường tình, bà với tui hồi xưa cũng thế thôi. Đến lúc nào thì hết. Có lẽ tới khi ra ở riêng.


Ông bà mua đám đất trong làng, ngay mặt tiền đường liên xã. Gom hết mấy thứ vàng dành dụm xây cho vợ chồng trẻ một cái nhà cấp bốn kiên cố, lợp ngói đỏ ngon lành, cũng nhứt xóm. Ông yên tâm từ nay vợ chồng con sẽ hết cãi cọ, hoặc nếu có to tiếng qua lại thì bà cũng không nghe thấy, đỡ nặng lòng.


Nhưng bà thính, rất thính. Buổi tối nghe tiếng chó sủa bên xóm, chạy qua y chang cảnh con trai say rượu, con dâu nằm úp mặt khóc. Xoong nồi chén bát chỏng chơ trước sân. Mình bà dọn dẹp cất đặt. Cái chén cái dĩa vỡ hoặc sứt mẻ thì gom vứt ngay, nhất quyết không để dấu vết đổ vỡ trước nhà. Chỗ này mặt tiền gần đường sát ngõ, người làng qua về thấy cảnh sẽ đặt điều không hay. Dọn xong bà lủi thủi đi về. Đứng ở đấy chướng mắt, chúng nó vùng dậy ẩu đả lại như chơi. 


Bà nhiều lúc thấy lòng mình rất mỏng, chỉ một chút xao động nhỏ cũng có thể quặn run lên. Chẳng hạn có hôm sang nhà con, nghe dâu bảo anh ấy đi nhậu chưa về. Bà ngồi chờ, ruột gan nóng bừng theo từng nhịp đồng hồ. Bà tưởng tượng ra cảnh thằng con say trúng gió nằm thẳng cẳng đâu đó. Hoặc con trai chạy xe máy loạng choạng đâm vào cột điện nứt đầu.


Bà hỏi con dâu dạo này nó có hay say xỉn không. Con dâu đáp vẫn nhậu đều, anh đi làm mối quan hệ này nọ, kiêng sao được. Tới khi thấy con trai về tận nhà, bà mới yên tâm. Qua được một lần sốt ruột.


Ông bảo chúng nó đã ở riêng, bà ra đấy làm gì để chuốc lo vào thân thêm khổ. Nhưng thói quen khiến bà ngày nào cũng phải ghé qua nhà con ít nhất một lần. Có khi nửa đêm, chỉ cần nghe chộn rộn tiếng chó cắn nhau đầu ngõ, bà lủi thủi mò đi coi. Chẳng có chuyện gì ngoài mấy con chó ngứa răng.


Bà hỏi ông hồi đó ông có chắc là thầy bói bảo chúng nó hợp tuổi không. Ông ngẫm nghĩ một lúc bảo hình như ông thầy nói không xung không khắc, ở với nhau được.


Thôi chết rồi, ông thầy nói lưng chừng thế chắc là không hợp tuổi rồi.


Không tin thì bà tự đi mà coi, ông đáp.


Và bà đi thật, mình bà đi bộ chục cây số để gặp ông thầy bói nghe nói coi duyên số hay. Ông thầy bấm đốt ngón tay nhẩm tính bảo hai tuổi đó bình thường.


Bình thường là sao, sống với nhau được chừng nào.


Cũng tùy cơ duyên, tốt lành trăm năm, xui xẻo thì chục, mười lăm năm cũng có. À, mà để coi, hai đứa này trúc trắc kể từ hồi nạp lễ nhận dâu, đúng không.


Bà gật đầu, lạnh cả sống lưng. Thầy tiếp, vậy thì hay hục hặc nhau.


Bà kể hết chuyện cái vòng kiềng, xin thầy chỉ cách hóa giải giúp.


Thầy phán muốn thoát tai ương, phải làm cái lễ cắt đứt quan hệ mẹ con. Ông thầy vẽ lên giấy một cái bùa đưa bà đem về nhà, đợi đúng ngày giờ năm xưa bà sinh thằng con thì đốt cái bùa đó đi.


Sau lần ấy bà chuyển cách xưng hô. Bà xưng tôi, gọi con trai là anh, gọi con dâu là chị. Khách sáo như những người xa lạ. Bà cũng không còn qua về thường xuyên nhà con trai nữa. May có thằng cháu nội năm tuổi ngày nào cũng tới chơi với bà nội. Thằng cu thành kênh kết nối thông tin từ bên nhà về cho bà.


Lâu lâu không thấy mẹ sang chơi, vợ chồng anh chị qua nhà lại bị mẹ làm mặt lạnh nhạt như không quen biết, hỏi bâng quơ một hai câu.


Chị nói với chồng dạo này hình như mẹ bị bệnh trầm cảm. Chồng bảo có thể là bệnh tuổi già của người hay bận tâm. Những người đó họ mất cả đời lo lắng, nên về già được thảnh thơi bỏ qua mọi chuyện. Cũng đúng.


***


Khi bà nội mất, ông nội lấy cái hộp màu đỏ đưa cho tôi, bảo nửa đời bà đau đầu và suy sụp vì cái này đây. Tới khi ông nội thanh thản qua đời, tôi mới đem cái vòng kiềng đi nhờ người bạn làm nghề kim hoàn hàn lại cho nguyên.


Anh bạn cười bảo cái này hàn lại dễ ợt, nhưng là vàng giả mày ơi, vàng thật năm chỉ nó chắc chắn chứ đâu có gãy dễ như vậy. Người thợ kim hoàn mà nội tôi thuê thổi kiềng ngày đó đã tráo trở.


Tôi định đem chuyện này kể cho mẹ biết, để mẹ sẻ chia với sự bất trắc của bà nội hai chục năm về trước. Nhưng nghĩ lại nói ra chỉ làm mẹ thêm một lần nghĩ ngợi. Những thứ giả dối hành hạ người ta như thế là quá nhiều rồi.


Tôi bảo bạn kệ, cứ hàn đi, tuy biết vết thương quá khứ làm gì cũng không lành được nữa.

Truyện ngắn của Hoàng Công Danh
May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply
#51
Chiếc váy dưới đáy hòm

GN - Tiếng gõ mõ, mùi nhang thơm thoang thoảng, có cả mùi của giấy đốt, mùi nhựa khét lẹt, mùi vải cháy cùng lúc trộn vào nhau bay lên.


[Image: khoinhang.jpg]


Hôm nay Vấn làm lễ cúng bốn chín ngày cho vợ. Trong nhà mọi nghi lễ đã xong xuôi, ông thầy cúng nhắc Vấn đem tiền vàng ra hóa, ông còn dặn thêm khi sống vợ Vấn có gì thì cũng đem hết ra hóa cùng. Vấn nhớ ra cái hòm tôn mà vợ gã vẫn hay dùng để cất mấy thứ lặt vặt và đồ cá nhân của phụ nữ. Mở nắp hòm, gã thấy hơi tò mò. Thật ra, bấy nhiêu năm chung sống, gã cũng không mấy quan tâm đến chiếc hòm vì nghĩ chắc cũng chẳng có gì quan trọng. Mà đúng, chả có gì thật: Này là lược, này là quyển sổ ghi linh tinh, này là chiếc khăn quàng cổ, này là...

Vấn giật mình khi thấy ở đáy hòm có cái gì đó được gói khá kỹ trong túi ni-lông màu đỏ. Gã tò mò giở ra xem, đó là một chiếc váy hoa màu tím vẫn còn mới nguyên. Gã ngơ ra một lúc, vẻ nghĩ ngợi, rồi gã nấc lên, hai tay cầm chặt chiếc váy, vỗ thùm thụp vào ngực mình, nghẹn ngào. Bất ngờ Vấn khóc rống lên, tiếng khóc của một người đàn ông dễ làm cho người ta thấy cảm động. Nhưng tất cả những người có mặt vẫn không biết lý do gì mà gã lại có hành động lạ thường như thế khi nhìn thấy chiếc váy hoa.




***



Phấn trắng trẻo và xinh gái nhất xóm, ai cũng khen. Chẳng biết có phải do cái tên mẹ đặt cho hay không mà Phấn trắng thế. Có người bảo ai được bà mụ yêu thì bà nặn ra xinh đẹp da trắng, má hồng, duyên dáng… Chẳng ai kiểm chứng được điều đó cả. Nhưng đám trai làng rập rình trước ngõ nhà Phấn mỗi đêm là có thật, đám trai làm lũ chó nhà Phấn sủa ầm lên hết đợt này qua đợt khác. Đám trai trai ấy ganh nhau, gầm ghè nhau, cốt để có cơ hội được tiếp cận Phấn.

Vấn cũng như đám trai làng, Vấn mê Phấn lắm. Đêm nào Vấn cũng thập thò trước ngõ nhà Phấn, nhưng chẳng mấy khi có cơ hội thể hiện gì với người đẹp. Đám trai làng đông quá, họ hàng đêm ngồi như thách thức nhau ở nhà Phấn, họ hầu như quên đi cái mục đích chính là làm sao giành được cảm tình của Phấn rồi, thành thử càng ngày Phấn càng thấy mệt mỏi.

Vấn đã có cơ hội chạm vào đôi mắt của Phấn. Đó là lần đi vét ngòi ở ngoài đồng, người làng đi đông lắm, người xúc bùn, người chuyển lên đắp bờ ngòi. Vấn vốn hay nói, những câu chuyện có duyên và hài hước làm người làng cười lên từng đợt khoan khoái. Vấn thường liếc qua phía Phấn, nhưng hình như cô nàng không để ý mấy tới những câu chuyện mà chàng đang thao thao. Kỳ thực Phấn đã thấy bị lôi cuốn vì những câu chuyện mà Vấn kể, cô nàng lặng lẽ dõi theo và thầm cười duyên. Cô nàng đứng trên bờ đón những cục bùn mà người khác đưa lên và cần mẫn xếp vào bờ ngòi. Chợt Phấn chới với, lớp bùn non làm chân cô trượt đi. Phấn ngã. Một vòng tay rắn chắc đã ôm lấy ngang eo Phấn, cô vẫn kịp nhận ra đó là Vấn. Bốn mắt nhìn nhau, bối rối, ngỡ ngàng, xao động. Hai má Phấn đỏ bừng, đôi mắt đẹp to tròn nhìn Vấn chớp chớp. Vấn cứ đứng im, tay vẫn ôm ngang eo người đẹp, bên tai hai người là những tiếng cười, tiếng trêu đùa, gán ghép. Kể từ hôm ấy, hàng đêm hai người bắt đầu hò hẹn.

Rồi Phấn và Vấn cũng nên vợ nên chồng. Vấn yêu Phấn lắm, càng ngày Vấn càng thấy yêu vợ hơn. Vấn luôn lo lắng một ngày nào đó Phấn sẽ rời xa mình, nỗi lo sợ làm Vấn muốn cất giữ Phấn như một món đồ, cất thật kỹ, Phấn là của riêng Vấn, không ai khác ngoài Vấn. Những lời khen, những ánh mắt ngắm nhìn của người khác dành cho vợ làm Vấn thấy cuộn lên trong lòng như những hậm hực, buồn lo và cả sự nghi ngờ. Càng ngày Vấn càng khắt khe với vợ. Những sự khắt khe ấy đều bắt nguồn từ sự lo sợ những ánh mắt của đám đàn ông trong làng dành cho vợ mình. Đôi khi nghe thấy những lời trêu đùa của ai đó với Phấn là máu trong người Vấn lại sôi lên, đầu óc nóng như đốt lửa.

Thế rồi hôm đó Phấn sẽ phải đối mặt với những lời chất vấn, hằn học, gầm gừ của chồng. Càng ngày Phấn càng thấy mình mất tự do và bất an. Phấn đi đâu cũng phải e dè, giữ khoảng cách với đàn ông bởi chỉ một lời khen, một nụ cười thôi là về nhà Phấn lại phải đối mặt với những căn vặn vô lý. Phấn biết chồng rất yêu mình. Nhưng Phấn không tài nào lý giải được thứ tình yêu ấy. Có phải khi dành quá nhiều tình yêu cho một ai đó mà thành ra làm khổ người ấy, làm khổ chính mình không? Người ta bảo Vấn đã mắc bệnh ghen quá nặng rồi. Phấn thật sự cũng không biết sự ghen ấy nó lớn thế nào, nặng đến đâu nhưng thực sự có một sức nặng đang đè bẹp cuộc sống của Phấn. Thậm chí đi đâu mà mặc quần áo đẹp Phấn cũng không dám, thà chịu xấu mặt với người ngoài còn hơn bị Vấn săm soi.

Cuộc điện thoại từ Thu - đứa bạn thân làm Phấn thấy vui lên. Đã bao nhiêu năm rồi không gặp nhau kể từ ngày nó lên xe hoa theo chồng là người ngoại quốc. Nghe kể thì nó rất hạnh phúc, chồng tâm lý và chiều chuộng nó hết cỡ. Nghe giọng nó oang oang nói chuyện mà Phấn thấy thèm. Nhưng biết làm sao, mỗi người một hoàn cảnh không thể so bì. Chẳng còn mấy ngày nữa mà tới ngày họp lớp, ngày ấy hai đứa gặp nhau sẽ vui lắm.

Thu về, vừa bước vào nhà Phấn nó đã cười rộn lên. Nó nói tranh cả phần của Phấn. Hai đứa cứ thế ôn lại bao nhiêu chuyện quá khứ, nó kể cho Phấn những chuyện ở nước ngoài. Rồi Thu nhất định đưa Phấn sang thành phố để chơi và mua sắm.

- Mày chọn đi. Chọn mấy bộ quần áo cũng được, tao trả tiền cho. Đừng ngại. À, mai họp lớp bọn mình cùng mặc váy nhé - Thu tíu tít như một đứa trẻ.
Phấn rụt rè:

- Tao đã mặc thế bao giờ đâu.
- Thôi đi bà. Quê vừa vừa thôi.

Thực ra không phải Phấn không muốn mà là vì nếu có mua về Phấn cũng không dám mặc. Phấn sợ Vấn lại căn vặn như những lần trước. Mà càng ngày Vấn càng tỏ ra khó chịu. Những câu vặn hỏi, những lời đay nghiến của chồng như những gai nhọn cào vào trái tim vốn đã buồn phiền của Phấn. Mấy lần đi ăn cưới, những dịp hội phụ nữ thôn liên hoan thấy mấy chị em váy vóc, áo dài mà Phấn khát khao. Ở quê bây giờ chị em cũng biết ăn mặc lắm chứ không như ngày trước. Phấn cũng đã từng ước mình diện một chiếc váy đứng trước đám đông giống như mọi người. Phấn biết mình đẹp, mọi người khen Phấn đẹp và nói sao Phấn không ăn mặc diện một chút. Phấn chỉ cúi đầu không nói. Phấn không muốn vì điều không đâu mà tình cảm vợ chồng lại thành ra lạnh nhạt. Thực ra Phấn đã hy sinh những điều ước muốn, cho dù rất nhỏ như thế vì hạnh phúc gia đình.

Ngày họp lớp, Phấn đã xuất hiện với chiếc váy hoa màu tím trước sự trầm trồ của mọi người. Thu nhìn Phấn mà ngây người, tròn mắt. Lúc sau nó xuýt xoa khen Phấn đẹp. Mà đẹp thật, chiếc váy vừa vặn bó sát thân người lộ ra những điểm gợi cảm, màu tím càng tôn làn da của Phấn lên làm cho khuôn mặt như sáng lên. Thực ra Phấn đã định không mặc như thế này nhưng vì nể Thu, sợ nó giận nên Phấn quyết định mặc. Và Phấn cũng nghĩ thì cứ thử mặc đẹp một lần xem sao, đã lâu lắm rồi Phấn không có được cảm giác mình ăn diện. Phấn phải lựa lúc Vấn không có nhà mới dám mặc rồi vội vã phóng xe máy đi.




***



Một cánh tay chắc nịch nắm lấy tay Phấn rồi giật ra phía sau, Phấn chỉ kịp nhận ra có một người đàn ông đang lôi mình đi ra khỏi nhà hàng. Nhiều ánh mắt đổ dồn về phía hai người, Thu cũng bất ngờ vì điều vừa xảy ra. Cả mấy chục người bạn học đang ăn uống vui vẻ bỗng nhốn nháo lên vì chuyện của Phấn.

Phấn bị Vấn lôi đi, đôi bàn chân Phấn dường như chưa chạm mặt đất.

- Anh Vấn! Anh làm gì thế?

Vấn càng nắm chặt tay Phấn làm cổ tay đỏ lên và đau tức. Phấn cảm thấy hoang mang và xấu hổ trước những hành động của chồng mình. Phấn có thể nhìn thấy những mạch máu đang giần giật trên hai thái dương và cổ Vấn.

- Về nhà ngay! Đú đởn vừa vừa thôi - giọng Vấn nói như quát.
- Anh đừng nói thế - Phấn nói trong nước mắt.

Vấn đẩy Phấn ngã, gầm lên:
- Về nhà ngay! Không nói nhiều. Về!

Cuối cùng Phấn cũng phải răm rắp làm theo lời chồng, ngoan ngoãn như một đứa trẻ biết lỗi.




***



Phấn chết vì chứng bệnh ung thư vòm họng. Cái chết ấy khiến không ít người bất ngờ. Vấn không thể tin rằng vợ mình đã ra đi, sự thật ấy làm cho Vấn bàng hoàng. Cả đêm Vấn thức trắng bên quan tài vợ. Những ký ức hiện về mồn một làm cho lòng Vấn quặn xoắn nghẹn ngào. Nước mắt tuôn chảy vào tim xót xa, chát mặn.

Vấn cầm chiếc váy hoa rồi ôm chặt vào ngực mình. Hình ảnh về người vợ khi còn sống hiện về, những tiếng nấc làm cho đôi vai người đàn ông góa vợ rung lên liên hồi. Chiếc váy hoa màu tím được thả vào ngọn lửa, Vấn đứng đó nhìn trân trân cho đến khi mảnh vải cuối cùng bị lửa liếm sạch. Mắt Vấn nhòa đi, mọi vật xung quanh nhòa đi, chỉ còn lại hình ảnh chiếc váy và khuôn mặt Phấn chập chờn sau làn khói. Vấn khẽ gọi tên vợ rồi lại nấc lên từng hồi.


Truyện ngắn của Lê Minh Hải
May all Living Beings always live happily!
May they free from enmity
May they all share the blessings
Springing from the good that I have done!
                    Admire Admire



Reply