Tìm Hiểu Tôn Giáo: Sự giống nhau và khác nhau
#1


Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#2


Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#3


Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#4
xin mời nghe
























Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#5




cái tựa của cái vdeo này có sự lầm lẫn
còn nội dung thì khá hay


Danh xưng Thiên Chúa giáo bao gồm

1. Do Thái giáo
2. Công giáo
3. Chính thống giáo
4. Hồi giáo
5. Anh giáo
6. Tin Lành

tất cả đều gọi Đấng tối cao là Thiên Chúa, Kitô giáo là không có Do Thái giáo và Hồi giáo vì họ không chấp nhận hay thờ chúa Jesus.

người Việt thường lầm lẫn gọi Công giáo là Thiên Chúa giáo, đúng chỉ 1 phần mà thôi, gọi chính xác Công giáo tại VN là Công giáo La Mã, có Đức giáo hoàng trị vì tại Vatican (Ý) còn có Công giáo nguyên thuỷ khác, độc lập tại Âu Châu, không thuộc về toà thánh Vatican. Đức giáo hoàng của Công giáo La Mã chỉ đại diện cho chính tôn giáo này mà thôi, không bao gồm các nhánh Thiên Chúa giáo khác.

Ba tôn giáo có số tín đồ đông nhất trên thế giới là: Hồi giáo, Ấn giáo và Công giáo La Mã.
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#6
21 điểm khác nhau giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành


Về căn bản, Đạo Tin Lành giống với Đạo Công Giáo đều dựa vào kinh Thánh. Sự khác nhau chủ yếu trong luật lệ và lễ nghi, lối sống đạo và cơ cấu tổ chức Giáo Hội. Đạo Công giáo và đạo Tin lành 

1. Đạo Công Giáo tin nhận tất cả 64 quyển Kinh Cựu Ước, trong khi Đạo Tin Lành chỉ tin nhận 39 quyển. 

2. Đạo Công Giáo coi Kinh Thánh, các nghị quyết Cộng đồng và quyết định của Giáo Hoàng là cơ sở pháp lý; trong khi Đạo Tin Lành cho rằng Kinh Thánh là chuẩn mực căn bản và duy nhất của giáo lý và đức tin. Ngoài Kinh Thánh ra không còn văn bản nào khác.

3. Đạo Công Giáo chủ yếu sử dụng hai loại kinh Nguyện và kinh Bổn (sách giáo lý) trong sinh hoạt tôn giáo; trong khi Đạo Tin Lành chỉ sử dụng kinh Thánh trong sinh hoạt tôn giáo. 

4. Đạo Công Giáo cho rằng bà Maria đồng trinh trọn đời và đề cao tôn sùng bà, coi bà là Mẹ của Thiên Chúa; trong khi Đạo Tin Lành chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giê-su và chỉ coi bà là mẹ trần thế của Chúa Kitô, nên chỉ tôn trọng chứ không tôn sùng thờ lạy bà Maria. 

5. Đạo Công Giáo đề cao tôn sùng các Thánh, trong khi Đạo Tin Lành chỉ kính trọng và noi gương các Thánh, không đề cao, tôn sùng. 

6. Đạo Công Giáo chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh để được ơn phúc; trong khi Đạo Tin Lành không chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh. 

7. Đạo Công Giáo tin có Thiên Đàng, địa ngục và luyện ngục, Đạo Tin Lành chỉ tin có Thiên đàng, địa ngục chứ không có luyện ngục. 

8. Đạo Công Giáo có bảy phép bí tích gồm: rửa tội, thêm sức, giải tội, thánh thể, xức dầu Thánh, truyền chức Thánh, hôn phối; Đạo Tin Lành chỉ tin và thực hiện phép rửa tội, (bắp tem), phép tiệc Thánh, ngoài ra Đạo Tin Lành còn thực hiện một số lễ hôn phối, lễ dâng con trẻ cho Thiên Chúa. 

9. Đạo Công Giáo thực hiện lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh bằng vẩy nước và đặt tên Thánh cho người được rửa tội, trong khi Đạo Tin Lành chỉ thực hiện phép này gọi là bắt tem cho người 15 tuổi trở lên, chủ yếu bằng cách dìm mình dưới nước và không đặt tên Thánh cho người chịu phép bắp tem. 

10. Đạo Công Giáo nhận phép biến thể trong lễ Thánh thể (bánh mì, rượu nho biến thành Mình Chúa và Máu Chúa), Đạo Tin Lành không công nhận thuyết biến thể trong phép Tiệc Thánh và cho rằng đó là kỷ niệm về cái chết của Chúa Kitô, bánh và rượu chỉ tượng trưng cho Mình Chúa và Máu Chúa. 

11. Đạo Công Giáo qui định tín đồ xưng tội với Thiên Chúa qua Linh mục, Đạo Tin Lành qui định tín đồ chỉ xưng tội với Thiên Chúa. 

12. Đạo Công Giáo thường sử dụng hình thức cầu nguyện chung bằng các bài Kinh nguyện đã soạn sẵn, trong khi Đạo Tin Lành, tín đồ tự cầu nguyện nói lên ước vọng của mình với Thiên Chúa và chỉ cầu nguyên hai bài chung là Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính. 

13. Đạo Công Giáo khi cầu nguyện có sử dụng tràng hạt, quỳ lạy, làm dấu Thánh, Đạo Tin Lành không sử dụng tràng hạt, không quỳ lạy, không làm dấu Thánh khi cầu nguyện. 

14. Đạo Công Giáo thờ hình tượng và ảnh; Đạo Tin Lành không thờ hình tượng và ảnh vì cho rằng trong kinh Cựu Ước Thiên Chúa đã nói đến việc không thờ hình tượng. 

15. Đạo Công Giáo lấy lễ là chính, bắt buộc các tín đồ phải thực hiện các nghi lễ theo qui định, trong Đạo Tin Lành, sinh hoạt tôn giáo lấy sự hiểu biết lẽ Đạo qua Kinh Thánh, tín đồ không nhất thiết phải thực hiện các lễ nghi. 

16. Đạo Công Giáo thường xây dựng nhà thờ theo kiểu Gô-tích nhiều hoa văn hoạ tiết cầu kỳ và có Thánh quan thầy bảo hộ, trong khi nhà thờ Đạo Tin Lành có lối kiến trúc hiện đại, trong ngoài nhà thờ không có tranh tượng, chỉ đặt Thập tự giá biểu tượng Chúa Kitô chịu nạn và không có Thánh quan thầy bảo hộ. 

17. Đạo Công Giáo xây dựng một giáo hội thống nhất, có cơ quan trung ương là Giáo Triều Vaticăng; Đạo Tin Lành không có một tổ chức giáo hội thống nhất, chia ra thành nhiều hệ phái, mỗi hệ phái có nhiều giáo hội độc lập. 

18. Đạo Công Giáo điều hành giáo hội chịu ảnh hưởng của cơ chế phong kiến, quyền lực tập trung vào Giáo Hoàng; trong khi Đạo Tin Lành điều hành giáo hội theo cơ chế dân chủ, tín đồ được tham dự các hoạt động của giáo hội một cách trực tiếp hoặc theo cơ chế đại cử tri. 

19. Đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm với phẩm trật theo thứ tự trên dưới khác nhau: Giáo Hoàng, Hồng Y; Giám Mục; Linh Mục;…. Trong hàng giáo phẩm Đạo Tin Lành gồm các chức: Mục sư; Trưởng lão và Chấp sự. Một số hệ phái Đạo Tin Lành có cả nữ phái tham gia hàng giáo phẩm. 

20. Đạo Công Giáo hàng giáo phẩm duy trì chế độ độc thân có thần quyền rất lớn, trong khi Đạo Tin Lành hàng giáo phẩm được lập gia đình và không có thần quyền. 

21. Đạo Công Giáo hình thành hệ thống dòng tu nam, nữ và thường được chia làm nhiều dòng tu theo quy chế địa phận, dòng tu theo quy chế Toà Thánh, Đạo Tin Lành không có duy trì dòng tu nào.

Nguồn bài viết: https://vanhoatamlinh.com/21-diem-khac-nhau-giua-dao-cong-giao-va-dao-tin-lanh/
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#7
Sự khác biệt giữa Hội Thánh Sơ Khai hồi giữa  thế kỷ thứ 1 và Kitô giáo (Công giáo nguyên thuỷ, Công giáo La Mã, Chính thống giáo, Anh giáo, Tin Lành)

Những ai muốn biết, rất đơn giản, chỉ cần vào đọc phần đầu của sách Tông Đồ Công Vụ trong kinh Tân Ước là biết rất rõ ngày xưa những người tin theo Chúa Jesus họ sinh hoạt ra sao, sống đạo thế nào, có sự xung khắc ra sao  v.v......


[Image: TanUoc1.jpg]


Được sự cho phép của
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM đại diện Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ
Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô 
xin trân trọng giới thiệu đến Quý vị:


Toàn bộ Kinh Thánh
Tân Ước

"Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô" Thánh Giê-rô-ni-mô.



Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#8


Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#9
Phúc Âm Gioan
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


[Image: 170px-P46.jpg]



Phúc âm Gioan (theo cách gọi của Công giáo) hay Phúc âm Giăng (theo cách gọi của Tin lành) (tiếng Hy Lạp: Εὐαγγέλιον κατὰ Ἰωάννην, chuyển tự LatinhEuangélion katà Iōánnēn) là Sách Phúc Âm cuối cùng trong số bốn sách Phúc âm của Kinh Thánh Tân Ước. Phúc âm Gioan được hoàn thành vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất SCN và theo truyền thống được gán cho tác giả là Gioan Tông đồ nhưng ngày nay đây vẫn là vấn đề còn được tranh luận.

Như ba sách Phúc âm Nhất lãm, phúc âm Gioan viết về những việc làm và lời dạy dỗ của Chúa Giêsu. Tuy nhiên Phúc âm Gioan có một nét khác hẳn với Phúc âm Nhất lãm.[1] Trên thực tế, hầu như không có những đoạn được nhắc lại trong Phúc âm Nhất lãm, trừ tường thuật về sự thương khó của Chúa Giêsu.[2]


Chủ ý của Phúc âm Gioan như được khẳng định tại Chương 20, Câu 31 là "để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người." Phúc âm Gioan chủ yếu nhắm đến niềm tin vào Chúa Giêsu, là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa, và vào sự sống vĩnh cữu mà niềm tin này đem lại cho con người.[3]
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#10
Cấu trúc và các chủ đề chính trong Phúc âm Gioan


Phúc âm Gioan bắt đầu tại Chương 1, Câu 1 và kết thúc nguyên thủy tại Chương 20, Câu 30-31. Đa số các nhà chú giải cho rằng chương 21 được thêm vào sau.[32][33] Các học giả thường chia Phúc âm Gioan thành bốn phần: lời tựa (1, 1–18); cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu thường gọi là "sách các dấu lạ" (1, 19–12, 50)[34]bữa ăn tối cuối cùng của Chúa Giêsu và các môn đệ, các diễn từ cáo biệt, cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu (13, 1–20, 31) thường gọi là "sách vinh quang"; và kết luận nguyên thủy của sách Phúc âm (20, 30–31).[33][35][36]

  • Phần lời tựa Chương 1, Câu 1 đến 18 cho thấy bản tính thực của Chúa Giêsu, là Ngôi Lời mà từ Người vạn vật được tạo thành và Ngôi Lời đã trở nên người phàm[37], Người đã đến với dân Do Thái nhưng dân Do Thái từ chối đón nhận, còn "những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa." (1, 12)[38];

  • Phần còn lại Chương 1 trình bày lời chứng của Gioan Tẩy giả về Chúa Giêsu (1, 19-34) và nhóm môn đệ đầu tiên (1, 35-51);

  • Chương 2 cho chúng ta một cái nhìn hai vế về Kitô học gồm hai màn: Chúa Giêsu tỏ mình ra như là đấng Messiah bày tỏ vinh quang của Ngài ở Tiệc cưới Cana (2, 1-12) và ở Jerusalem qua việc đuổi con buôn trong Đền Thờ (2, 13-22)[32];

  • Chương 3 và 4 trình bày thái độ của con người trước mạc khải của Chúa Giêsu với ba màn: Nicôđêmô, đại diện của Do Thái Giáo chính thống dù đã mở rộng ra để đón nhận Chúa Giêsu nhưng chưa có được đức tin đích thực, người phụ nữ Samari đại diện cho Do Thái Giáo "lạc đạo" nhưng đã đạt tới niềm tin vào lời của Chúa Giêsu; và viên sĩ quan, có lẽ là Dân ngoại đã tin Chúa Giêsu ngay tức khắc nhờ lời của Người[39];

  • Chương 5 đến chương 12 cho thấy xung đột của Chúa Giêsu với người Do Thái chính thống. Ở chương 5 và chương 6, mỗi lần Chúa Giêsu tự mạc khải qua một dấu chỉ thì đều có tranh luận với người Do Thái. Cuộc đối đầu đó trở nên khốc liệt ở chương 7 đến 10 và có sự tố cáo giữa các bên. Việc đối đầu đó kết thúc ở hai cảnh tại chương 11 và chương 12: Chúa Giêsu làm Ladarô sống lại và cuộc vào đền thờ Jerusalem vinh hiển của Chúa Giêsu[40];

  • Chương 13 đến chương 17 gồm một trình thuật (13, 1-32), ba diễn từ (13, 33 đến 14, 31; 15, 1 đến 16, 4a; 16, 4b-33) và một lời nguyện (chương 17) có hai chủ đề chính: (1) sự ra đi của Đức Giêsu; và (2) những hệ lụy nảy sinh từ sự ra đi đó.[41] Chương 13 đến 16 là diễn từ từ biệt được đặt trong khung cảnh bữa ăn cuối cùng. Đức Giêsu nói những lời từ biệt, Người mặc khải, khích lệ và dặn dò các môn đệ trước khi bước vào cuộc thương khó.[42] Trong chương 17, Đức Giêsu dâng lời nguyện lên Chúa Cha, báo cáo với Chúa Cha về sứ vụ của Ngài[40];

  • Chương 18 và 19 là trình thuật về cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu;

  • Chương 20 trình bày các lần Chúa Giêsu hiện ra trong ngày Lễ Vượt Qua và ban Thánh Thần[43];

  • Phần kết luận cho thấy mục đích của phúc âm, là "để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người."[44];

  • Chương 21 tường thuật sự tỏ mình của Chúa Giêsu với các môn đệ sau khi Người phục sinh tại Galilee, việc đánh bắt 153 con cá, tiên đoán Phêrô bị đóng đinh và số phận người môn đệ Chúa yêu.[44]
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#11
Hỏi: Chúa Jesus sanh năm nào, có phải là năm thứ 1 hay là trước đó vài năm?
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#12
Year of Jesus' birth


The date of birth of Jesus of Nazareth is not stated in the gospels or in any secular text, but most scholars assume a date of birth between 6 BC and 4 BC.[1] Two main methods have been used to estimate the year of the birth of Jesus: one based on the accounts of his birth in the gospels with reference to King Herod's reign, and another based on subtracting his stated age of "about 30 years" from the time when he began preaching (Luke 3:23) in "the fifteenth year of the reign of Tiberius Caesar" (Luke 3:1-2): the two methods indicate a date of birth before Herod's death in 4 BC, and a date of birth around 2 BC, respectively.[1][36][37][38][39][20][40][41][42]
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#13
Chronology of Jesus
From Wikipedia, the free encyclopedia


[Image: 250px-Church_of_Christ_icon.jpg]


Medieval[/color]
 Russian icon depicting the Life of Christ

chronology of Jesus aims to establish a timeline for the events of the life of Jesus. Scholars have correlated Jewish and Greco-Roman documents and astronomical calendars with the New Testament accounts to estimate dates for the major events in Jesus's life.
Two main approaches have been used to estimate the year of the birth of Jesus: one based on the accounts in the Gospels of his birth with reference to King Herod's reign, and the other by subtracting his stated age of "about 30 years" when he began preaching. Most scholars, on this basis, assume a date of birth between 6 and 4 BC.[1][2][3][4][5]
Three details have been used to estimate the year when Jesus began preaching: a mention of his age of "about 30 years" during "the fifteenth year" of the reign of Tiberius Caesar, another relating to the date of the building of the Temple in Jerusalem, and yet another concerning the death of John the Baptist.[6][7][8][9][10][11] Hence, scholars estimate that Jesus began preaching and gathering followers around AD 28–29. According to the three synoptic gospels Jesus continued preaching for at least one year, and according to John the Evangelist for three years.[6][8][12][13][14]
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#14
Các học giả về Kinh thánh hay các nhà chuyên môn về các lãnh vực khảo cổ học, di truyền học, sử học ....... đều không thể biết được CHÍNH XÁC Chúa Jesus sinh năm nào và rời khỏi các môn đệ năm nào. Vì sao?

Vì tất cả đều dựa vào những tài liệu cổ và các bằng chứng khoa học, nhưng những thứ này cũng không thể chính xác tới mức độ 100%. Cho nên vấn đề được nêu ra chỉ nói lên một điều duy nhất: hình ảnh một Chúa Jesus TRẺ.
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply
#15
[Image: 66-1-702x3321-1.jpg]
Đời là thế, đừng hỏi tại sao
Reply