Nội Công Thiết Tuyến
#1
Information 
Tài liệu Nội Công Thiết Tuyến (Tự Luyện Nội Công Sơn Đông) này thuộc về trung cấp, là quyển tiếp theo tài liệu Bát Đoạn Cẩm -- sơ cấp -- đã được đăng trong VB đôi năm về trước. Hơn mười năm trước, anattā "downloaded" cả hai tài liệu này từ diễn đàn ThuVienVietNam. Vì thế các files của tài liệu NCTT này tách rời nhau và ở dạng HTML, hiển hiện các posts của diễn đàn, chứ không phải là dạng một quyển sách ebook. Hiện tại mình chưa thấy trên mạng có lưu trữ nguyên tác quyển sách NCTT này. Mình đã đọc qua và nhận thấy tài liệu Nội Công Thiết Tuyến này rất hữu ích, đáng quý, nên đăng vào đây để những bạn trẻ tuổi hay trung niên nào yêu thích thì có thể tham khảo để cải thiện sức khỏe, cũng như làm thành tập sách PDF nếu muốn. Và xin chân thành gởi lời cám ơn rất nhiều đến người đã đánh máy quyển sách quý giá này của GS Hàng Thanh và vị thành viên đã đưa nó lên diễn đàn TVVN nhiều năm trước đây. Bây giờ thì tài liệu này không còn tìm thấy ở diễn đàn TVVN nữa.

...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
[-] The following 1 user Likes anattā's post:
  • SugarBabe
Reply
#2
[Image: NCSD00.jpg]


MỤC LỤC

TỰA SÁCH
 
SÁCH NỘI CÔNG SƠN ĐÔNG
 
CHƯƠNG I:

1. Lịch Sử Môn Nội Công  
2. Ai Là Người Có Thể Luyện Nội Công
3. Thành Quả của Việc Luyện Nội Công 
4. Sự Thiếu Sót của Võ Thuật Ngày Nay

CHƯƠNG II:

1. Mười Khẩu Quyết Ghi Tâm 
2. Bài Tập Thứ Nhất: Luyện Thân Thủ
 
a) Ngũ Bộ Tấn: Lập bộ, Kỵ Mã bộ, Đinh bộ, Chảo Mã bộ và Xà Tự Mã bộ.

b) Thập Bát Thế Thủ Tụ Lực:
1) Tiêu Thủ, 2) Câu Thủ, 3) Định Thủ, 4) Cổ Thủ, 5) Trầm Thủ, 
6) Bổng Thủ, 7) Phân Thủ, 8) Phao Thủ, 9) Khấu Thủ, 10) Xuyên Thủ, 
11) Đao Thủ, 12) Trảo Thủ, 13) Tiêu Chi Thủ, 14) Khai Cung Thủ, 
15) Thác Thiên Phách Thủ, 16) Tháp Thủ Viên Hình, 17) Tang Quyền Thủ, 18) Tang Chưởng Thủ.
 
CHƯƠNG III:
 
1.  Quán Tưởng Khí Thần Hóa Lực
2.  Bài Tập Thứ Hai:  Thiết Tuyến Viên Hình Quyền (Nội Công đại thành)
3.  Phép Chế Vòng Thiết Tuyến

 
***

HỘP THƠ GS. HÀNG THANH
 
Giải đáp các vấn đề: 
Võ học, Y lý, Đạo học v…v…

*
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#3
LỜI TỰA
 
Nếu nói trong đời có những ngày đẹp vô cùng thì sáng hôm nay, đối với soạn giả, là một buổi sáng tràn đầy tươi vui hạnh phúc trong lòng.  Vì, là một buổi sáng tiếng én reo vui và nắng vàng chan hòa trước cửa mừng đón bài tựa sách Nội Công và Bát Đoạn Cẩm, buổi sáng tạo hóa vui mừng vì có sự sanh ra.
 
Vui mừng khác chi người Cha thấy Mẹ sanh con trai đầu lòng…
 
Nội Công và Bát Đoạn Cẩm không phải là con đầu lòng của soạn giả, nhưng lần thai ngén nầy có trầm trọng khác thường.  Khi ăn, lúc ngủ, giờ vui chơi, lòng soạn giả mênh mênh tưởng nhớ đến thai nhi (nội dung sách).  Rồi sáng nay trời đẹp mới nẩy sanh một đứa con chiếu hào quang rực rỡ: “Nội Công Bát Đoạn Cẩm”, đứa con quí nhập thế, đi vào lòng người, trao trên tay người, vạn triệu tay người, cho người nâng niu trìu mến như đứa con, như đứa em…
 
   Ai mà không thương con, ai mà không thương em, đứa con, đứa em sáng ngời như hòn ngọc quí.
 
   Lần sanh đứa con nầy soạn giả quên mọi điều mệt nhọc, quên mọi công lao vì mở mắt ra đã thấy muôn vạn nụ cười tươi ngưỡng mộ.
 
   Ai mà không sanh con, nhưng sanh được con quí mới là kỳ diệu.  Nhưng dù kỳ diệu vẫn có người không nhận ra điều kỳ diệu.  Như Phật Tổ xưa cầm Ngọc Như Ý đưa ra trước trăm chúng Thần Tăng liễu ngộ mà chỉ có mỗi Ca Diếp mỉm cười.  Ca Diếp là người kế vị Phật, Phật cũng cười.
 
   Mừng thay, vui thay.  Một cũng đủ huống hồ.  Phật còn khiêm tốn huống hồ.
 
   Nay soạn giả đưa đứa con ra liền có vạn bàn tay đưa lên cười, bảo sao sáng nay trời không nắng đẹp, cỏ cây ngoài ngõ không trổ hoa đầy, chim én sao không reo vui chung quanh ghế ngồi.  (Thật như thế chớ không phải hứng chí bịa chuyện hoang đường vì tịnh thất của soạn giả có trồng nhiều cây cảnh, chung quanh nhà chim yến làm tổ rất nhiều (trên mái nhà), tối chúng về, sáng chúng bay đi, nhưng sáng nay chúng vui nên ở muộn).
 
   Nói chi xiết điều vui cho người nghe, cho bằng hữu nghe.  Đạo lớn thường vui làm sao nói ra cho người cùng vui.  Lão Tử xưa cỡi con trâu xanh lòng vui ngập mà chỉ có Trời hay.  Trang Tử vui quá đỗi mà Khổng Tử là bậc Đại Sĩ cũng khó lòng chia nổi như ta chia nhau tách nước trà.  Lọ là.
 
   Nhưng nay thì bậc Cao Sĩ, học giả đông như sao trời, lòng như mây ngũ sắc nên đạo liễu ngộ không cần đến tuổi bạc đầu.  Thế nên sách nầy ra bàn tay đón, tiếng cười vui truyền không dứt…
 
   Vui rồi, mừng rồi, soạn giả đâu có tịch mịch, đâu có như Trang Lão ngày xưa mà phải cỡi trâu ra ngoài quan ải, đánh trống khi vợ bửa nắp quan tài (áo quan, hòm đựng xác Trang Tử giả chết, mấy cháu nhỏ cần mua sách Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh xem thêm cho hiểu đời, các cháu học lên đại học, cao học đủ biết, chưa biết cũng phải học thêm).
 
   Nói cho rõ để người sơ sơ cũng hiểu là Tu Nội Công và Bát Đoạn Cẩm mà thành tựu thì thân thường được khỏe mạnh, tâm hồn thường được thảnh thơi nên vui thường và cảm ứng được thiên nhiên… nói cách khác là “Đắc đạo giữa đời” (Tu Thiên định đến mức cũng chỉ được như vậy).
 
   Người xưa nói: “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”,  chư học giả tâm cơ linh mẫn hẳn đã rõ chỗ Nhất, Nhị, Tam tu đó.  Nghĩa là ở nhà tu đắc đạo vui hơn ở chợ, tu ở chợ đắc đạo vui hơn ở chùa, (người chưa đắc đạo chỉ biết nghĩa tu ở nhà khó thành hơn ở chợ và chùa).  Thế mà vạn kiếp lưu truyền mấy người đỉnh ngộ.
 
   Bát Đoạn Cẩm, Nội Công là phép tu thân cho đắc đạo giữa đời chớ không phải chỉ là phép thần phụ trợ làm tăng tiến sức mạnh võ phu thường thức như nhiều bậc phàm phu lầm tưởng.
 
   Hôm nay Trời mở ra đầy linh khí cho soạn giả nẩy sanh đứa con quí, sanh rồi liền trao cho chư hiền, học giả bốn phương trìu mến dưỡng nuôi làm con chung, sự tốt lành hay không sau nầy tùy nơi nuôi dưỡng mỗi người, còn soạn giả chỉ lưu lại trong lòng một kỷ niệm.
 
   Nếu đứa con chúng ta lớn lên, nên thân như vầng nhật nguyệt thì soạn giả là người đầu tiên hưởng niềm vui trong sách ấy, mà người dưỡng nuôi đã hòa hợp đạo trời rồi, là đã sánh bạn cùng các bậc vô lâu cổ kim.
 
   Phép nuôi con (tu luyện) đã sẵn ở trang kế sau đây rồi, mời học giả môn sinh nhẹ tay đỡ lấy.  Soạn giả xin có lời thân mến chúc mừng sự hạnh ngộ hôm nay và thành công ngày mai.
 

SOẠN GIẢ
Gia Định Thành, mùa Hạ năm Giáp Dần, 1974, 24, 4.


***
*
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#4
Chương Thứ I

 
I.       LỊCH SỬ MÔN NỘI CÔNG SƠN ĐÔNG
 
Về nguồn gốc lịch sử các môn tuyệt học võ thuật Trung Hoa, các võ gia đương thời cũng như ngày xưa đều có hai khuynh hướng nhận định khác nhau.  Một số người cho là mọi môn tuyệt học ngày nay còn lưu truyền đều do Tổ Sư Đạt Ma trước tác dùng huấn luyện các tăng tử đệ tử rồi lưu mãi cho đến ngày nay.  Nếu có thiếu sót là do người đời quên lạc chánh bổn chớ khởi đầu không chỗ nghĩ bàn.  Tức Tổ Sư đặt ra là đâu vào đó, đúng nguyên tắc, tinh vi, cao minh tối thượng, v…v… Lớp người nầy hoàn toàn tin nơi chân bổn cổ truyền, coi như giá trị bất di bất dịch.
 
Số người khác không tin là Tổ Sư trước tác tất cả tuyệt học công phu trong buổi sanh thời.  Họ cho rằng một số bài bản và môn học tinh hoa thuộc môn phái Thiếu Lâm đều do các môn đồ ưu tú của Tổ Sư và sau nầy trước tác, chế biến.  Người ta đưa ra những chứng minh cụ thể về các công trình nghiên cứu giá trị dưới thời vua Càn Long, thời đại võ học cực thịnh cũng như các triều đại trước đó, v..v…
 
Nhưng dù bàn cãi sôi nổi đến đâu người ta vẫn để tâm nghiên cứu và luyện tập các môn học cao siêu mà lịch sử của nó còn trong bóng tối.
 
Ngày nay văn minh khoa học tiến bộ đến nỗi các khoa học gia có thể khám phá ra những điều mà bộ óc con người thuở xa xưa không thể nghĩ tới và cũng khám phá được một vài điều để thẩm định thời đại phát triển những ngành học thuật, tư tưởng một cách chính xác nhờ dựa vào những dữ kiện lịch sử, tranh ảnh điêu khắc, v…v… mà ngành khảo cổ học đã khai quật được.  Những di vật tìm thấy được đưa vào các máy điện tử phân tích và người ta tìm được câu trả lời, dù cho 5-10 ngàn năm máy vẫn trả lời được huống hồ có hơn ngàn năm từ ngày Tổ Đạt Ma trụ trì chùa Thiếu Lâm (sau năm 520 Tây Lịch, sau khi từ Ấn Độ vượt biển sang Quảng Châu được quan đầu tỉnh Quảng Châu đón tiếp rồi được vua Lương Võ Đế mời về triều hỏi đạo lý… nhưng vua nhà Lương không hạp nên Tổ Sư sang nước Ngụy ở Lạc Dương nhằm đời vui Hậu Ngụy Hiếu Minh Đế niên hiệu Chánh Quang, lúc bấy giờ đã 23 tháng 11 năm 520.  Khi Tổ Sư đặt chân lên Tung Sơn chùa Thiếu Lâm thì chắc đã sang đầu năm 521 rồi).
 
Những tài liệu, di vật còn rất nhiều nhưng hiện chưa có khoa học gia nào nghiên cứu nên chưa thẩm định rõ rệt.  Các sử gia thì lờ mờ biên chép cho có lệ, còn các hệ phái Thiền Học thì thêm vào dư vị thần bí cho thêm phần long trọng, hậu học thì dốt nát dị đoan nên cũng không truy cứu được những gì chân thật của Tổ Sư để lại.  Người hiếu sự và con buôn khai thác thị hiếu quần chúng bằng cách bày vẽ hoang đường, nhiều thiên cố sự về đời Tổ Sư được bày ra, v…v… để bán sách.  Rốt cuộc đến đời nay mọi việc chúng ta đều phải suy nghĩ lại.  Điều nầy không dễ, chắc chắn là không dễ khi đang thiếu nhiều phương tiện cần thiết để khảo cứu.  Vỉệc nầy để rồi có dịp sẽ tính tới, bàn lại cho chánh lý, vì cuộc đời Tổ Sư là cả một huyền thoại ly kỳ nhất thời đâu dễ bàn suông.
 
Riêng trong ngành võ học, quyền thế về Quyền Luận đã có lắm sự bày vẽ rất nhiều… Trong khoa Nội Công tu dưỡng Thần Lực cũng không thiếu sự vẽ vời: nào là Dịch Cân Kinh, Tẩy Tủy Kinh, Nội Công Đạt Ma, Kim Cang Nội Công, Kim Cang Thần Công, v…v… đủ thứ sách đều gán cho Tổ Sư trước tác, kể cả sách bậy bạ viết bừa về nội công không có căn bản gì cả như cái gì là Kim Cang Nội Công, Kim Cang Thần Công, v…v… người đời nghe danh từ Kim Cang (cương) là loại đá quý bán được nhiều tiền nên tưởng đặt tên là bán chạy, mà quả sách đó cũng bán chạy thiệt.  Ở trình độ cao hơn có người trí tuệ xem qua bộ Kinh Kim Cang (tên Ấn Độ Va-j-ra Pra-j-na Paramita Su-tờ-ra, là bộ kinh do ngài A Nan Phật, đệ tử thứ hai của Phật Thích Ca chép lại lời Phật giảng về cách loại bỏ phiền não một cách cấp tốc để thành Phật) nhận thấy sự hay quý của lời giảng dạy và sự tôn kính của nhiều chúng đệ tử của Phật mới đặt ra một loại phép luyện công gán cho tên Kim Cang.  Kết quả sách bán chạy và được lưu truyền, sự luyện có thành công hay không đều chưa ai kiểm chứng nhưng vì tôn kính Phật nên người ta nễ luôn chữ Kim Cang, v…v… đó là trường hợp dựa hơi Phật của bọn buôn thần bán thánh đời nào cũng có rất nhiều.  Kỳ dư sách dạy luyện Nội Công của Tổ Sư chắc chắn không có nhiều bộ như thế, nhiều lắm là một bộ.  Với sự giác ngộ thành Phật của một vị Tổ Sư (ngài là học trò đời thứ 28 của Phật Tổ Thích Ca đã thành Phật tại Ấn Độ, nói theo võ học, ngài Bồ Đề Đạt Ma là sư điệt đời thứ 28 của Tổ Sư Thích Ca) thì ngài có thể viết một cuốn sách dạy về cách luyện cho thân tâm cường kiện linh mẫn tâm hồn hầu mau tinh tấn trong đường tu luyện giác ngộ chánh đạo thành Phật, sách dạy tu luyện thân tâm đó gọi là Nội Công được chia làm nhiều bậc, lớp tùy theo trình độ trí hóa mỗi người học trò, cái đó gọi là tùy duyên giáo hóa.  Có khi nội công ẩn trong quyền thế, có khi trong động tác thể thao dạy cho các kẻ sĩ không thích luyện quyền, và phép tĩnh luyện dùng dạy cho các cao tăng không còn thích vọng động múa máy tay chân…Trong ba giới trên có thể viết riêng rẽ mỗi người một cuốn sách tùy theo sở học của mình, việc này như thể người mù sờ voi, người sờ (rờ) đựng đuôi thì nói lên cái đuôi, chỉ biết có cái đuôi, người khác rờ chân voi chỉ biết được chân, kẻ rờ đụng vòi biết vòi voi…. Rồi theo ý kiến riêng mà biên thành sách để đời.  Sau có kẻ thông minh đọc cả ba sách mới tổng hợp, phân tích, v..v… rồi viết ra sách mới, v…v… sách mới ra vô số làm người kém trí hóa đâm ra như kẻ ở chợ lạc vào rừng sâu không khỏi ngơ ngác.  Nhưng với người trí lực tất đã có chỗ suy nghĩ, có chỗ thấu lý.  Chữ Tùy Duyên Giáo Hóa của Phật là ngọn đuốc cho bậc trí giả thượng thừa.
 
Thế thì tới đây chắc học giả cũng giảm phần thắc mắc về lịch sử của môn Nội Công.  Những phương pháp luyện không có nhiều, sở dĩ có ba phép là đều chỗ tùy duyên, tùy sở thích năng khiếu của người đệ tử mà bậc thầy dạy cho cách luyện vậy thôi.  Cách nào cũng tới chỗ hiểu thấu lẽ đạo, tinh thần linh mẫn thân thể cương kiện…
 
Nhưng học giả hỏi thêm là do đâu mà có ba phép luyện đó để ngài Đạt Ma huấn dạy đệ tử thì soạn giả xin thưa:
 
-- Tất cả ba phép luyện Nội Công đều nằm trong giáo lý của Phật Tổ, tiếng nói đời nay gọi là Phép Tu Thiền Định, nhưng có sự biến hóa một chút xíu để thích nghi duyên, đó là điều mà bậc Giác Ngộ Đạt Ma Tổ Sư đã mở ra một kỷ nguyên mới mẻ trong lãnh vực Thiền Học, cũng do sự sáng tạo tùy duyên đối cảnh đó mà ngài được tôn xưng là vị Thiền Tổ đời thứ nhất hay là vị Sáng Tổ Thiền Tông Trung Hoa trong khi tại Ấn Độ ngài đứng số 28.
 
-- Dù vậy cho đến nay những môn đồ Thiền Học của Tổ Sư đa số quên hết những giáo lý về Thiền Định cho thành Phật, cũng ít người biết cách luyện Nội Công.  Nếu có người biết Thiền Định thì cũng chỉ biết thiền suông chớ không biết cách xài cái Thiền Công (công năng của Thiền định, tức sự kết quả do Thiền định mà có).  Người luyện võ cho sự luyện Thiền là môn khác biệt xa vời, kẻ sĩ nhìn về hai phía cũng có chỗ ngờ vực…. cũng đều là ngu si ám chướng che lấp trí tuệ, việc nầy xưa kia Phật gọi là u mê, vô minh che lấp.  Trong cuốn Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự soạn giả có viết người cao tăng đã đủ quả Thiền định được chỉ sơ yếu lý là thành quả nội công thường thừa, cái lý ấy là đây vậy.  Nhưng tiếc thay đời nay ít ai luyện thiền cho đúng sách vở, mà đa số luyện theo sách Yoga tầm bậy bán ngoài chợ nên ai cố luyện đều bị bệnh trầm trọng mà chẳng thành được gì, soạn giả mất công chữa trị cho nhiều người bị trường hợp nầy có nói tới trong các mục trả lời thơ.
 
Giờ đây chư học giả và quân tử, trí giả đều đã rõ chỗ tùy duyên của Tổ thì sự luyện nội công không còn chỗ ngi ngờ phân biệt nông cạn như kẻ mù sờ voi.  Khi đã sáng trí thì tất biết, biết thì luyện được thành mà không có chỗ thất bại.  Hiện nay nhiều vị Tăng Sĩ và Tu Sĩ, Linh Mục xin nghiên cứu nơi soạn giả bí quyết luyện nội công nầy, chắc chắn rồi đây sở học của các vị ấy sẽ tinh tiến không ít.  Đạo lành mạnh thể chất, linh mẫn tinh thần, sống vui giác ngộ sẽ lan rộng mãi ra không còn là bí truyền, số người chuyên bày vẽ hoang đường vì thiếu hiểu biết phải có dịp suy nghĩ lại.  Chắc chắn họ phải suy nghĩ lại vì xưa nay họ nói hoang đường nhiều quá mà tự ngẫm lại bản thân thấy chẳng có thành quả gì ngoài mớ lý thuyết học thuộc lòng trong sách thánh hiền.  Đến như tấm thân mang đầy bệnh tật, đau khổ thường xuyên mà cũng không biết làm sao cho được lành mạnh, khổ đầy trong bụng ăn ngủ chẳng vui mà làm sao mơ được lên thiên đàng, niết bàn để thường an lạc, bình an…. Các vị nầy thường thì có tâm cầu tiến nhưng vì không có ai giác ngộ để hướng dẫn nên gặp nẻo cùng đường rồi đâm ra tự lừa mình và thường tự hối, tự trách khi thần trí tịch mịch.  Nếu quí vị có đọc qua sách nầy, suy nghĩ kỹ chắc sẽ tìm được lối sáng mà thân thường an vui cực lạc.  Thiên đàng tại thế, đắc đạo giữa đời là chỉ cho người sống tại hiện tiền mà thân thường vô bệnh, thần trí thảnh thơi, vui tươi chân chánh.  Ai còn câu nệ nầy, khác là chưa biết chỗ thiên đàng…. Dù cho chết đi cũng chẳng thấy được.
 
Nói thì dông dài quá, thật ra lịch sử môn Nội Công chẳng có gì xa vời huyền bí khó hiểu khó tìm.  Nó là sở học bắt nguồn từ môn học Thiền Định của Phật học tại Ấn Độ, do sự sáng kiến tùy duyên của ngài Đạt Ma mà lập ra ba phép truyền dạy cho thiền chúng và cư sĩ ngoại đồ khi ngài trụ trì tại chùa Thiếu Lâm bên Tàu.  Khoảng thời gian năm 521 sau Tây Lịch trở đi chưa rõ đích xác là năm nào ngài viết sách, nhưng môn Nội Công do ngài truyền ra là chánh lý.  Từ đó về sau nhiều học giả sao chép, sáng tác thêm bớt, mãi cho đến nay hơn 14 thế kỷ rồi.  Nhiều bản nội công được bày bán ngoài chợ không chắc chắn là nguyên tác của Tổ Sư, nhưng có thể cũng dùng luyện tập có kết quả được không nhiều thì ít.  Có điều có lẽ khó tập luyện cho đặng thành công vì sự sao chép của người đời là những người chưa biết gì về nội công thì không tránh khỏi có chỗ sai trật, tối nghĩa, phải thông minh lắm mới học được các sách đó.
 
Riêng sách nầy, cuốn sách do soạn giả biên soạn và quí vị đang cầm trên tay đây mang tên là Nội Công Sơn Đông cũng chắc chắn không phải là chân bổn của Tổ Sư.  Có lẽ do một bậc học giả uyên thâm về Võ Học và Đạo Lý Thiền Định sáng tác truyền đời.  Mặc dù có nhiều huyền thuyết ám chỉ nầy nọ nhưng soạn giả không tin nên cũng không biên vô đây làm bận mắt học giả và đôi khi còn có người để tâm huyền hoặc có hại cho tư tưởng chánh đạo chánh kiến.  Chỉ biết đây là phép luyện Nội Công bằng quyền thế, gọi là động luyện, khác hơn tĩnh luyện của các cao tăng trong chùa, (các Thượng Tọa Đại Đức, tiểu nhỏ nhỏ cũng luyện môn nầy tức động luyện cho có sức khỏe và sự linh hoạt thân thể) dùng huấn luyện cho hạng ham võ tăng tiến thể chất, sức mạnh đạt đến kinh người, khi khai hợp quyền thế kình lực phát ra không một đối thủ nào chịu nổi, cọp beo, trâu ngựa mà bị một đòn của bậc đại thành cũng dập xương, nát ruột, tim, gan, tỳ, phế, v…v… là thứ nội công có sức phá hoại ghê gớm.  Chính các võ gia bên Tàu thuở trước rất ham luyện tập môn nầy để biểu diễn trong các đoàn hát dạo bán thuốc mà người mình quen gọi là Sơn Đông Mãi Võ.  Ngày nay bên Tàu, kể cả Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Nam Dương quần đảo đều có nhiều võ gia chuyên luyện và truyền bá sâu rộng.  Tại Việt Nam mấy chục năm trước cũng có vài vị võ gia nổi danh ngoài Chợ Lớn có sức mạnh vô địch có luyện tập, nay vị ấy qua đời, các dụng cụ được con cháu chất đống coi chơi.  Có lần soạn giả ghé thăm cố nhân không khỏi thương tâm phút giây, người hay như thế suốt đời cũng chỉ tạo dựng được một mái nhà trong con hẻm chật chội, chết đi tài năng tiêu tan, còn lại chỉ là tấm ảnh lọng kiếng trên bàn thờ sau bóng đèn điện đỏ lờ mờ… Quí vị võ sư cao niên đọc tới đây chắc động tâm nhớ tới vị bằng hữu tài danh nầy.  Còn hiện nay không mấy người nghiên cứu rèn luyện ngoài soạn giả ra, cho nên phương pháp vẫn còn được coi như bí truyền.
 
Vì chỗ dễ tập, dễ thành, dễ biểu diễn nên các võ gia thuộc ngành bán thuốc dạo ham mộ trình bày, mà người đời biết đến.  Do đó soạn giả lấy tên là Nội Công Sơn Đông cho dễ hiểu, cho đại chúng hóa môn học.  Kỳ dư cái tựa không thể đủ mang nội ý của sách, mà sách cũng không mang hết được ý của môn học.
 
Nhưng dù sao thì cho tới câu nầy, học giả cũng đã biết được nguồn gốc môn học mà chúng ta sắp nghiên cứu tới một cách không có gì mơ hồ xa cách.  Mời quí vị sang mục kế tiếp.

...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#5
II.             AI LÀ NGƯỜI CÓ THỂ LUYỆN NỘI CÔNG
 
Khác hơn môn nội công tĩnh luyện cần các điều kiện tuyệt đối về tâm trí và sinh lý, v…v… môn Nội Công Sơn Đông nầy ai tập cũng thành công và thành công một cách chắc chắn, mau chóng.  Có thể nói đây là môn nội công đại chúng và cấp tốc, thực dụng.  Đây là thứ nội công trung đẳng đủ thích nghi cho mọi môn sinh tục gia tuổi từ 15 cho đến cụ già 85, gái trai, thiếu phụ con cái đùm đề, trung niên rượu thịt yến ẩm, thường luyện tập môn nầy để có sức mạnh hơn người, nhà sư hổ mang, sư rượu Lỗ Trí Thâm, sư phá giới cùng các bậc tăng sĩ dõng lực đều cũng học phép nầy.
 
Sở dĩ ai tập cũng được cũng dễ thành mới truyền bá được rộng rãi, rộng rãi và dễ thì thường không được cao minh.  Nhưng ở đây có điều khác hơn sự thường.  Đạo lý của môn công phu nầy trong vòng 10 năm luyện tập trở lại không thể có môn khác sánh bì.  Mười năm trở lên có thể sút kém hơn nội công chính tông thượng thừa, nhưng thời nay có ai luyện được 10 năm?  Còn như luyện tập 3 tháng, một năm thì sức mạnh hiện rõ, lấn lướt người thường, bỏ xa quyền sư chuyên luyện quyền lực dù loại quyền gì cũng không tăng tiến bằng.  Soạn giả dám đoan chắc như thế, ai có luyện qua cũng đồng ý như thế, học giả luyện vài tháng cũng thấy đúng như thế.
 
Nói qua như thế nghe thật ngọt tai nhưng khi bắt tay vào việc luyện cũng phải tránh bớt vài điều:  Chẳng hạn khi rượu thịt no thì không nên luyện tập, giao hoan với phụ nữ một đêm quá ba (3) lần sáng ra không nên luyện tập, thời tiết bất thường sanh bệnh thì không nên luyện tập phải đợi hết rồi một hai ngày sau mới luyện tập (người tập thành, cỡ sáu tháng trở lên không bị bệnh được dù thời tiết ra sao cũng chẳng sao), con gái trước ngày có kinh kỳ một (1) ngày nghỉ tập cho đến một ngày sau khi dứt kinh mới được tập, đàn bà có chửa tới tháng thứ sáu thì nghỉ tập, sanh đẻ xong hai tháng sau thì tập được, đặc biệt là đàn bà dù giao hoan 3 lần một đêm sáng ra vẫn tập được, đó cũng là luật bù trừ của tạo hóa đặt để để bù lại những ngày kinh kỳ sanh đẻ của họ.  Nhưng khi có chửa đến tháng thứ tư trước khi tập phải dùng tấm vải lớn rộng ba (3) tấc Tây quấn chung quanh bụng làm nhiều lần vừa vặn (đừng chặc quá) rồi mới tập, tập xong mở vải ra đem phơi.  Nếu nhà giàu dùng vải lụa mềm êm xông (ủ) trầm để buộc bụng mà tập thì sau sanh con thông minh, mạnh khỏe không có đóng cái gì dơ trên đầu đứa con nít.  Nhà nghèo thì phải giặt tấm vải cho sạch sẽ (vải trắng hay màu hồng) phơi khô, chớ để thấm mồ hôi lâu ngày dơ bẩn.  Gút đai (tấm vải) để xéo bên hông trái, nếu chửa dạ dưới thì quấn đàng trước thấp sau lưng cao cho miếng vải nâng cái bụng lên hơi hơi đừng để cho thòng.  Đàn bà chửa tập phải khoan thai (chậm chậm, nhẹ nhàng) hơn thời còn con gái hay đã sanh rồi.
 
  • Người già 65 tuổi đến 85 tuổi tập nhẹ như đàn bà chửa.
  • Trẻ con 15 đến 20 tuổi tập như thiếu nữ đồng tuổi và đàn bà không có mang.    
  • Thanh niên 21 đến 45 tuổi tập nặng theo sự tinh tiến.
  • Tuổi còn sồn sồn từ 46 đến 64 giảm bớt trọng lượng và lần tập tùy theo sức khỏe tiêu hao.
 
Người luyện võ và nội công đúng mức tuổi 65 hãy còn sung mạnh như tuổi 40 của người thường nói về các cơ quan sanh lý trong mình, chớ sức đánh đòn thì người thường đang tuổi trai tơ nằm mơ cũng không dám sánh với hàng bô lão, ngay như hạng có luyện tập mà thiếu kinh nghiệm nóng nảy cũng đều bị đòn khi nhảy lăn quăn trước mặt cụ già.  Đời nay ít có được cụ già đáng giá như thế vì bảy tám chục năm rồi võ thuật bị bỏ quên phần giặc giã nên cái ăn chưa đủ còn giờ đâu luyện tập, cũng chẳng trách gì.  Nhưng nếu người ta biết nghĩ nghèo mà có sức khỏe, sống lâu có phải là vui tươi hơn giàu mà chết yểu, bệnh hoạn như mấy ông tỷ phú đời nay thì tối tối thay vì uống rượu đế, nói dóc, cãi nhau, v…v… người ta tập vài miếng võ có phải đời thêm tươi đẹp không.  Trăm sự cũng tại làm biếng, thiếu người dẫn dắt.  Nay thì đời đổi khác rồi, dù 7-80 tuổi vẫn còn thích học hỏi thêm, vì người ta biết rằng càng học thì càng thấy đời tươi đẹp, đáng sống đáng yêu, càng học thì tuổi già chạy mất, gần với trẻ, biết vui cái vui tuổi trẻ tức là sống lại tuổi xuân và ngày mai chết cũng sướng rồi đâu có như thuở trước người mới 60 tuổi đã lo làm lễ Lục Tuần rồi sau đó tự coi như mình đã chết, quanh năm suốt tháng ngồi bó gối chờ chết, ăn hại rầy rà làm phiền con cháu, cản trở sự tiến bộ của đám trẻ đang vươn lên.  Mấy tháng trước có tin một bô lão 89 tuổi, vị cha già của một dân tộc đông dân nhất thế giới khởi sự học Anh Văn nhằm ngày sinh nhật của ông ta, thay vì ngày đó yến ẩm linh đình… Gạt bỏ màu sắc chánh trị qua một bên ta thấy vị lão thành đó đáng cho thanh niên, bô lão thế giới kính phục cái tinh thần cầu học ấy.  Sống mà như thế thì nên sống.

Hạng đau yếu trầm kha nên tập Hô Hấp (điều tức) theo sách Nội Công Thiếu Lâm Tự.  Cơ thể bạc nhược yếu như con gái thì tập như con gái.
 
Con nít chưa tới 15 tuổi xương tay còn non lắm không thể tập được, vì cưỡng tập sẽ bị cong xương tay như càng con tôm hay sanh ra tay cán vá xấu lắm, mất oai phong.  Người chân cong càng tôm, tay cán vá, hay chân đi chữ bát chàng hảng chê hê, xấp xa xấp xảy, hoặc vừa đi vừa nhún nhảy vừa bơi thì không thể là người học võ hay được, cũng không thể có oai.  Trong kinh Phật có nói tới 32 tướng tốt của Phật mà chưa nói tới 32 tướng xấu của phàm phu, tưởng các tướng vừa nói tới trên nằm trong tam thập nhị xú tướng.
 
Nói là nói như vậy nhưng dù có xấu tướng đến đâu mà chịu khó tập luyện cũng thay đổi tướng lần lần, không tốt như người căn số nhưng cũng hay hơn chính mình rồi vậy.  Ai có tướng xấu chớ buồn, rán tu kiếp sau sẽ khá hơn lo gì.

Soạn giả vui ý viết lung tung học giả theo dõi chắc hơi lan man, nhưng tựu chung soạn giả cốt trình bày các hạng tuổi, hạng người luyện tập được môn học nội công cho đặng đúng cách.  Người ta nói làm chánh trị sai lầm làm hại một chế độ, một thế hệ, nhưng viết sách bậy bạ di hại tới mấy mươi thế hệ.  Do đó soạn giả tự mình rất đỗi lưu tâm không khi nào dám khinh xuất hay ngẫu hứng nói càn, dù ví dụ vui chơi cũng không thiếu phân lượng cần thiết.
 
Điều nầy thiệt tình đã lâu soạn giả vẫn giữ đúng y như thế.  Ngay trong việc sống hàng ngày soạn giả vẫn không thể tự lừa mình thì việc bàn luận cùng bằng hữu, chư học giả, soạn giả nhất nhất giữ nguyên đạo lý.  Có ai vì chỗ vô tình rỗng bụng của soạn giả mà buồn soạn giả thì xin cho biết, soạn giả nhất định sẽ sửa đổi cho đặng như sự mong muốn chánh đáng của mọi người, nhưng phải chánh đáng mới sửa, sửa tầm bậy thì chắc là chẳng sửa đặng đâu.
 
Khác hơn thiên hạ ưa bày vẽ điều nầy việc nọ cao minh, chải chuốt lời văn, từng câu từng chữ, soạn giả viết theo sách thường dụng ý, ý soạn giả đúng ý của chư học giả là vui rồi.  Từng đoạn từng chương là cuộc bàn luận vừa vui chơi vừa mang lại vài ý kiến bổ khuyết cho học giả nào chưa nghĩ kịp.  Do đó chư học giả đọc sách của soạn giả tức là đang nói chuyện chơi với soạn giả đó.  Soạn giả suốt đời cũng chỉ muốn vui chơi với học giả để bổ khuyết cho nhau những điều lành mạnh, làm đời sống thật sự có ý nghĩa đáng sống đáng yêu, dù trong cảnh ngộ nào.  Soạn giả lòng thảnh thơi nói chuyện thảnh thơi cùng chư học giả thảnh thơi thì mình đều ở chỗ thiên đàng, niết bàn rồi vậy.  Võ học là con thuyền (ghe) đưa ta đến chỗ thảnh thơi giống hệt các triết lý tôn giáo lớn trên thế giới chớ chẳng phải quơ múa loạn xạ, đập nhau chảy máu mũi.  Động tác đánh đập đá, v…v… chỉ là các động tác bơi thuyền, mà ý, thần tập trung toàn diện là người ngồi khỏe trên thuyền.  Việc luyện thành suốt đời vui tươi lành mạnh hay hóa ra hung ác cũng thể giống như cùng đi trên thuyền mà mỗi người một ý, có đứa định cắt túi ăn cắp tiền người, có đứa định qua sông tìm hại người .v..v… cũng có người ngắm dòng nước chảy, cây xanh in bóng bên bờ lòng phiêu diêu, hồn xác thảnh thơi.  Người được như thế thì không có gì xấu làm ấn tượng trong tâm, bậc thánh hiền xưa thường được như vậy.  Tập luyện võ thuật, nội công ý dẫn khí triền miên vận lực, tâm hồn quên mọi ưu phiền, nghiệp ác, nghiệp tham, nghiệp sân si, v…v… đều bỏ đi tìm người khác mà tá túc.  Thường luyện thường quán luyện thì đắc đạo vui tươi giữa đời là như vậy đó.  Soạn giả được vui tươi như ngày nay cũng nhờ phép đó.
 
Nay nói lại để hậu học có dịp suy gẫm.  Xưa nay không khác đạo lý, có khác cách vận dụng biến hóa mà thôi.  Khoa học có tiến nhưng tư tưởng đến chỗ cùng tột vui tươi thì hết rồi.  Tới chỗ đó khỏi học gì thêm nữa, nói xưa nay cũng vậy thôi là ý như thế.  Phật nói trước Phật có Cổ Phật (Phật xưa) đời Phật là Hiện Đại Phật, sau Phật có Tương Lai Phật, cộng lại từ vô thỉ (từ hồi tạo thiên lập địa) có hằng hà sa số Phật (tức Phật đông như cát sông Hằng bên Ấn Độ, nếu ở VN có thể nói Phật đông như cát biển Nha Trang, cát sông Đồng Nai) nghĩa là ai cũng rồi sẽ thành Phật nếu có tu luyện.  Trong đạo nội công cũng vậy, ai cũng thành tựu công phu và an nhiên tự tại vui đẹp thảnh thơi trước sau không khác, từ vô thỉ đến đời hậu lai cũng vậy.  Chư học giả biết như thế thì còn lo gì việc có tập mà không thành, người buồn khổ lo gì không có ngày vui.  Tập đi rồi thấy kết quả hiện ra trước mắt.
 
Sách nầy ra, soạn giả hy vọng được nhiều người đọc, đọc rồi vui tươi, hằng hà sa số vui tươi, vui tươi trong mọi cảnh ngộ cuộc đời.
 
***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#6
III.          THÀNH QUẢ CỦA VIỆC LUYỆN NỘI CÔNG
 
Cái mộng lớn của mỗi giới trong thiên hạ đều khác nhau, nhưng có chỗ không khác được là khi thành rồi thì thơi thới tấc lòng, hả dạ vui tươi.  Sau thời Đế Thuấn, Đế Nghiêu, mộng làm vua khi toại chí thì tấc lòng không được thơi thới chút nào mà còn phải nói quá đỗi khổ sở lo âu là khác, ngành làm giàu cũng chẳng hài lòng khi có của, có của rồi của đè lên đầu như núi Ngũ Hành đè Tôn Ngộ Không trong chuyện Tây Du Ký, ăn cơm mà chẳng khác ăn sắt đá, uống nước mà chẳng khác uống dầu hôi… chung qui các hạng cũng tại lòng tham quá nặng, tội nghiệp chất chồng.  Xưa nói càng cao danh vọng càng dày gian nan thiệt là đúng lắm thay.
 
Có điều trong lãnh vực tu rèn thân xác, thần trí thì không có cái kết quả dày gian nan, buồn thê thảm, lo đến đau thần kinh, mà càng cao danh vọng càng giàu vui tươi.  Việc nầy trong đời ai cũng thấy, người tu rèn thân tâm đến chỗ đại thành thân thường an lạc mà người đời khi nhìn thấy cũng lây phần hân hoan.  Ví như các Cao tăng, Tu sĩ, Võ gia đến hàng danh vọng thì trong lòng lúc nào cũng cười, môi cũng cười, mặt cũng cười.  Cả hai phía đạt đến thành mà thân tâm đều khác là tại bởi người tích của ở ngoài, kẻ tích của bên trong.  Người có bên trong là thật giàu kẻ có bên ngoài là giàu giả.  Giả mới khổ.  Ở đời giả làm cái gì cũng nơm nớp sợ, làm giả cái gì cũng khổ đến gần, nay đầy tiền mai tay trắng thần trí hoang mang, nay có quyền mai mất chức, tủi nhục ngập lòng, tức giận tràn hông.  Kẻ vô lại (người bại hoại, xấu, ăn hại xã hội, kẻ dữ, hung ác) thường kết bè đảng như chó hoang hợp đàn, chung đường nhưng cắn nhau, giết nhau thân chẳng khỏe, thần chẳng yên.  Người mà khổ nhiều hơn vui thì hơn gì giống súc sinh.  Tội thay.  Tội nghiệp thay.  Bể khổ mênh mông.
 
Kẻ ngu để tiền bên ngoài, người khôn để tiền trong đầu.  Nhân loại đời nay kẻ khôn không ít, cho con ăn học, lớn tuổi tự rèn…. là cất của trong đầu, của trong đầu không mất, của trong đầu như đèn.  Chữ ít đèn lu chữ nhiều đèn tỏ, ánh sáng là nguồn vui tươi.  Của bên ngoài như lấy vách vây người, tới khi vách bít thì hết lối, tối tăm.
 
Việc võ gia tu học Nội Công là cùng đạo lý, của trong đó.  Người luyện võ khơi khơi đánh đá bậy bạ năm quyền một cước thì chẳng nói chi, vì ví thành quả cũng đấm đá qua loa, đỡ gạt sơ sài gân cốt chẳng mấy chi co dãn.  Còn như người ham mộ võ công thật sự, hằng ngày rèn luyện không ngừng thì thân người, gân xương, da thịt, phế phổi, v…v… sao tránh khỏi hư lao.  Xe chạy còn mòn bánh, hư máy, dầu hết, sơn phai… con người lao động tránh sao khỏi luật định.  Bởi thế có bậc võ gia than dài, tuổi mới 50 mà gối dùn lưng mỏi… Tội nghiệp, ông ta là người chất phát, suốt đời cũng ham luyện võ công nhưng chỉ biết quơ múa sơ sài, Nội Công không biết, tuổi 50 mà đòn đánh không đau nổi trai tơ.  Nếu như thế thì luyện quyền làm chi?  Lại có bậc lão thành tuổi gần 80 mà võ gia Cao Đẳng, lưng gấu vai hùm bị vỗ một chưởng chân đà tê liệt, chịu trận hết đi.  Nội Công ngoạn mục, chỉ có thành quả Nội Công mới giữ sức con người trước giờ tắt thở còn đủ đánh một đòn trí mạng.

...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#7
Việc ca ngợi thành quả nội công kể ra không xiết (hết), biểu diễn mới lạ hoài hoài tùy nghi biến chế, tùy trình độ thấp cao, tiểu thành hay đại thành.  Cái đó gọi là Nhất thành ứng vạn thành, nghĩa là thành tựu một công phu nội công có thể ứng phó với vạn trường hợp đều thành, suy rộng ra là biến hóa tùy nghi, giống như người biết lội (bơi) thì ở dưới nước muốn bơi kiểu nào cũng được, nào bơi ếch, lội bướm, lội sãi, thả ngửa, lặn, v…v… Bởi cái thành nội công đủ biến hóa như thế nên các vị thầy, học giả thành tựu nội công thường bày trò biểu diễn đặt tên đủ kiểu người đời vô học xem qua thấy toát mồ hôi sợ sệt, thoáng nụ cười ngưỡng mộ phục tài… mà ít ai biết đủ trò chung qui có một thành không khác.  Khi cỡi được xe đạp rồ bắt qua cỡi xe máy dầu không khó, chỉ thêm mấy động tác vô-ga, sang số, rồi tới đi xe hơi (ô-tô) còn khỏe hơn nhiều, thành Nội Công biến hóa vô lượng là giống như thế.  Nhưng nói như thế sao tránh khỏi phiến diện vì cỡi xe, bơi lội, v…v… là các trò đơn giản còn Nội Công rất đỗi tinh kỳ đặc xảo dày công, nhất cử nhất động đều bao hàm nhiều tình nhiều ý.  Phân tách từng chi tiết rất đỗi chi li không hết, nhưng cô đọng tập trung thì nội công hợp được Thân-Tâm duy nhất, người sẽ hóa thần, oai đức, khả năng vô hạn.  Do đó người xưa gọi là luyện Thần Công.  Thật vậy, chỉ có Thần mới làm nổi những điều người không làm được, có Thánh mới được các đức vị tha và bao dung.  Người thành tựu Nội Công bao gồm các Đức trên nên Thần Thánh không xa người mà đều ở trong lòng phụ trợ, còn quỷ ma (kẻ vô lại với quỷ ma không khác) đều kiêng sợ nên cũng a tòng (theo).  Câu xưa Đức trọng Quỷ Thần kinh là chỉ người tu luyện Nội Công ở mức Đại thành.  Các bậc danh y cũng đều công nhận vì người thành tựu Nội Công ngoại Tà (ma, loại độc khí) không thể xâm nhập.  Người nay hiểu câu trên có chỗ lầm lạc cần sửa lại. 

Thành tựu Nội Công thân tâm hợp-nhất nên nghĩ tới là động tới, nghĩ cái gì tất được việc đó, ví nghĩ tới chém bể đá bằng cạnh bàn tay là bàn tay đủ lực chém xuống nát đá, nghĩ tới chưởng vỗ bể chum (lu bầu nơi hông), mái (lu lớn bầu nơi hông dùng đựng nước mưa, v…v… còn gọi là Mái vú).  Đập nát trái dừa khô, tươi, mũi bàn tay đâm thủng ván, bốc tróc vỏ cây khi nghĩ tới, hàng cao đẳng cho xe cán, búa đánh, dao chém, v…v… đều là dụng ở Ý. Vì chỗ hợp nhất vô địch mà tâm vững, tâm định, tâm sáng, tâm bác ái, tâm sanh từ bi thương người ấy là tình.  Tình Ý đầy đủ thì không việc gì mà không dễ dàng thông sáng, hạnh phúc… Kết quả thấp của sự luyện nội công là thành tựu Thần Lực, thánh khiết thân tâm, để được mạnh khỏe sức lực vô địch, tránh mọi hư lao, hao mòn tự nhiên của luật trời, phát uy thể lực tới mức tận cùng của con người, tới chỗ Thần.  Còn chỗ cao hơn hết trong nội công là tinh thần cô đọng, hợp nhất (định) nên Trí hóa cùng mọi năng khiếu phát triển tới mức tối đa, làm việc gì cũng sáng suốt, do sáng suốt mà làm việc gì cũng thành công.  Câu Sức khỏe là vàng cũng chỉ để phụ họa, diễn rõ thêm công năng của Nội Công.  Vì thành tựu Nội Công thì thân tâm mạnh khỏe viên niên, trí hóa minh mẫn trường kỳ thì sự việc tranh đấu trong đời làm ít kết quả nhiều, làm nhiều có lợi vô lượng.  Nhưng có điều thành gia nội công vì giác ngộ đạo lý đời nên chỉ để mắt qua loa vài việc rồi ngồi ung dung thảnh thơi vui sống trọn đời.  Bởi chỗ đó, cái Thiên đàng Hằng ngày dùng đủ, là chỗ trẻ mãi không già, tuổi thọ chấm dứt mà hồn nhiên vui tươi.  Các mối Đạo, mấy trăm triệu người theo đủ thứ đạo để cầu xin được điều đó, nhưng họ quên rằng không thể xin được, mà mình hãy tự giúp mình.

Nội công dạy tập mà thành, tùy theo căn cơ, năng khiếu Tiểu, Đại mà thâu đạt kết quả nhỏ lớn, chớ không dạy cách đi ăn mày, há miệng chờ Sung rụng hoặc Ôm cây đợi Thỏ.  Bởi thế ai học Nội Công cũng thành mặt mày tươi sáng tự nhiên, thân thể khang kiện thấy rõ, thần thái uy nghi cao thượng khác thường, nghi biểu đường bệ mà dáng cách ung dung, tâm tính trầm ổn, lương trí thuần hậu, khoáng đạt vui vẻ trọn đời.
 
Cái thành của Nội Công thật thích nghi cho đời sống hàng ngày trong mọi thời đại, mọi giới.  Để tu thân, để kinh doanh, để lãnh đạo chỉ huy, làm thầy… thật là một môn khoa học cần ích và cần yếu cho nhân loại vậy.  Từ đầu chương đến giờ soạn giả bàn luận về nhiều khía cạnh của sự thành Nội Công, dù nhiều trang rồi nhưng vẫn chưa hết được vì Nội Công là hạt Kim Cương dưới ánh mặt trời, soạn giả chỉ đứng một chỗ nên chỉ nhìn được vài đốm ánh sáng chớp loé mà không đủ thấy mọi khía cạnh kỳ khu của toàn diện, sau nầy sẽ có bậc siêu phàm khác trình bày ở vị trí cảm quan khác chắc sẽ đặng đầy đủ hơn.
 
Trở lại chủ đề cái thành quả của Nội Công Cấp Tốc khi tập cuốn sách nầy thì không cao minh chi cho lắm mà chỉ đủ giúp một võ gia bạc nhược trở thành cường kiện cấp tốc, giúp võ sư có căn bản vượt hàng Thượng thừa cấp tốc, v…v… người thường luyện thì đau yếu lặt vặt biến mất, ăn ngon ngủ được, đầu óc minh mẫn thông sáng tự nhiên, thân thể ốm yếu hóa mạnh mẽ, mập phệ, phù thũng hóa ra cân đối tốt đẹp.  Thiếu niên (con nít), thiếu nữ, lớn lớn, sồn sồn, già già, đàn bà, đàn ông tập đều tốt lành.  Tập rồi sẽ rõ, sự tăng tiến cấp tốc từ thể chất đến tinh thần không thể ca ngợi tôn vinh cho hết được.

***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#8
IV.       SỰ THIẾU SÓT CỦA VÕ THUẬT NGÀY NAY
 
Đáng ra chẳng nên bàn tới chương nầy làm gì vì ai cũng biết võ thuật ngày nay hẳn là có những thiếu sót trầm trọng về mọi mặt.  Mà chẳng phải chỉ có thời buổi nầy mới có sự thiếu sót đáng được nêu ra, ngay từ xưa vẫn chẳng hơn gì.  Xưa nay vẫn thiếu sót, chẳng hơn gì nhau, mỗi thời có cái đặc biệt riêng của nó; rồi cứ cái đà thiếu thốn nhỏ nhoi ấy, Xưa bày nay vẽ.  Rốt cục mấy ngàn năm thiếu sót vẫn còn thiếu sót.
 
Người Việt ta vẫn thường ca ngợi tiền nhân là anh hùng, những bậc tài danh, giòng Tiên Rồng, Bốn ngàn năm văn hiến,… kêu thật là kêu, nhưng có lẽ bên Tàu cũng còn dùng chữ kêu hơn.  Chữ Rồng ở đây được nhiều thứ dân trên bán đảo Đông Dương nầy dùng, giới buôn bán (con buôn) tại Hồng Kông phân hạng Tàu 7 con Rồng, Thái Lan 5 con Rồng, Việt Nam 3 con Rồng.  Như vậy dân chúng quốc tế tại Hồng Kông coi nhẹ dân mình rồi.  Sao lại chỉ có 3 con?  Hạng bét?  Nhưng cũng may thay con Rồng đây được hiểu là xạo (gian dối, lưu manh, không đứng đắn, lừa đảo, bất tín).  Vậy thời hạng bét hóa ra đỡ hơn, đáng mừng hơn.  Thà hạng bét hay chẳng có hạng còn hơn.  Nhược tiểu, cái gì cũng nhược tiểu, những tinh hoa xứ sở đã chạy ra nước ngoài hết rồi.  Cái xạo của xứ sở ta chỉ có một số nhỏ người bảnh bao thế lực truyền đời đã mang ra ngoại quốc hết rồi, những cái hay họ cũng vô tình mang theo, bị ăn cắp, bị ăn cướp, qua các kỳ bị ngoại nhân xâm chiếm… Thế thì thiếu sót lại càng thiếu sót.  May là người mình thấp cổ bé mắt nên chẳng mấy khổ tâm mà vẫn thường an vui giả tạm.  Than ôi, con gà bên chảo nước sôi còn gân cổ gáy to, vỗ cánh, búng cựa… Người trí lự thấy thế luống những bùi ngùi, kẻ tu hành nhắm mắt miệng niệm kinh cứu độ.  Nam Mô A Di Đà Phật, Cứu Khổ Cứu Nạn…. A Men.  Xin Chúa hãy tha tội cho chúng nó vì chúng nó quá ngu dại…
 
Rồi cũng chẳng ai làm gì cho lợi nước, giàu nhà, thiếu sót trong mọi lãnh vực vẫn hoàn thiếu sót.
 
Về võ học bên Tàu ít ra có 7 môn phái lớn truyền đời từ trên ngàn năm, lan rộng ra tới Ngũ Đại Châu .v.v... Kỹ thuật tuyệt học nhân tài đông như rạ (gốc lúa đã gặt rồi, con nít ở thành thị không biết hỏi cha mẹ cho biết, có đứa tưởng cây lúa như cây cổ thụ trong Sở thú, hoặc cây me bên đường), như kiến cỏ (loại kiến nhỏ ở dưới gốc cỏ, nhiều lắm), nhờ có đông, có tranh nên nhân tài xuất hiện, nổi bậc nhân tài, sách vở có viết, trường ốc có bày ra… nhiều người thì phải còn tồn tại, còn phát triển.  Do đó Tàu xưa mạnh nay cũng hườn mạnh, Việt ta yếu cứ việc yếu.  Định luật tiên thiên là như vậy rồi, thiếu sót.

Nghĩ lại con gà gáy và chảo nước sôi chi xiết đau lòng.  Văn hóa mình, Võ học mình?  Anh hùng, Liệt sĩ?!  Dân tộc ta nghiêng mình, soạn giả lén liếc mắt nhìn mà rơi lệ?  Bao đời rồi Ông Bà mình học sách Tàu, thi kiểu Tàu, ăn theo Tàu, mặc theo Tàu, phẩm bậc vua quan cứ y như hệt, hết Tàu tới Tây, hết Tây u rồi tới Mỹ… chẳng học cái hay, cái dở ở lại đầy.  Tiểu thuyết Tàu, Tân Cổ, Văn hóa Tây Mỹ (thứ dở) nhà nước có bài trừ nhưng cứ mọc ra…
 
Cái hay không ai hỗ trợ, cảnh chiêu hiền đãi sĩ ngày xưa bây giờ không còn.  Buôn bán thì được.  Ăn thì được.  Chơi thì được.  Văn hóa bỏ quên.
 
Soạn giả đến một cơ quan hỏi mượn một tài liệu để viết cuốn sách thuộc về Văn hóa võ học thì giới chức khó dễ đủ điều.  Soạn giả viết gần trăm (100) cuốn sách rồi, ít ra cũng có lợi tối thiểu cho nước nhà dân tộc, nhưng người ta vẫn e dè.  Soạn giả bỏ cả đời ra sao lục nghiên cứu Văn hóa Võ Công thế giới, học tập rèn luyện đến ốm thân, mỏi gân, rêm xương… để chẳng ích gì?  Muốn làm việc ích quốc thì người ngăn cản.  Đây là trường hợp nhỏ nhoi, còn biết bao nhiêu trường hợp trọng đại hơn bị đình trệ từ nhiều đời rồi.  Văn hóa bốn ngàn năm thiếu sót, thiếu sót đã bốn ngàn năm rồi…. Cầu cho quốc thái dân an.  Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát…
 
Có ngày nào đó soạn giả đối diện với người lớn nhất nước sẽ nói rõ cảnh tình khó dễ nầy, đố khỏi có người liên miên đọc kinh cứu khổ.  Soạn giả vì việc lớn làm như thế chớ tuyệt không vì lợi riêng nên lòng vẫn thảnh thơi.  Các vị nên biết cho là nếu các vị cản trở thì soạn giả chẳng những không soạn thêm mà con mang hàng trăm bản thảo ra chỗ công cộng mà đốt thì thử hỏi ai mang tiếng với thế giới.  Các vị chớ lo cho cái bụng của soạn giả, vì lâu rồi soạn giả chỉ ăn ngày hai bữa cơm rau, ở Chùa cũng được mà ở Đình Miếu cũng xong một đời mà.  Không có sách con cháu quí vị như kẻ bị bịt mắt, người mù lòa, dẫu cho quí vị để lại kho tàng của cải, chúng ăn no mập xác cũng chẳng sướng gì.  Mong quí vị thấy việc tệ hại, là tất cả người viết sách nhất tề đốt hết sách, bản thảo chỉ vì quí vị bóp chẹt thì quốc gia nó sẽ ra làm sao?
 
Kính chúc quí vị có thẩm quyền sáng suốt.

...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#9
Cũng may là anh đã lưu giữ lại bài viết và hôm nay độc giả của VB  mới có cơ hội  cùng tham khảo

Clap Thanks-sign-smiley-emoticon Thanks-sign-smiley-emoticon

[-] The following 1 user Likes SugarBabe's post:
  • anattā
Reply
#10
Qua một vài khía cạnh nho nhỏ mà soạn giả trình bày như trên nên thuở xa xưa cho đến ngày nay Võ học Việt Nam ta (ở VN) chịu một thiếu sót trầm trọng.  Soạn giả nhớ mấy mươi năm trước đây, khi mà soạn giả và một vài soạn giả khác chưa viết cuốn nào về bộ môn võ học thì quê hương VN ta thật nghèo nàn.  Quí học giả môn sinh cả nước chẳng có tài liệu nào để tìm hiểu để so đo.  Giờ đây trong tủ sách Võ thuật đã có một số tác phẩm, nhưng vẫn còn thiếu sót rất nhiều, các môn võ mới du nhập thành phong trào, các môn cổ cựu bộc phát, các môn của Ông Bà xưa mới rụt rịt… nếu không có quốc sách thì rồi cũng mau tàn như chiếc nấm rơm.
 
Bên Tây Phương có câu: “Để lại cho con một kho vàng không bằng một cuốn sách”, người ta đã làm như thế và ngày nay quí vị đã thấy địa vị của họ như thế nào trên hoàn cầu và khi họ bước chân đến xứ ta, trong mọi lãnh vực.
 
Thư viện càng ngày có nhiều học giả đến, có thêm nhiều sách lành mạnh, có thêm nhiều tác giả mới là thứ Ngân hàng giá trị vĩnh cửu; đối với học giả xa phố chợ, sách vẫn là niềm an ủi, nguồn vui sống trong đời.  Thế nhưng trong mọi lãnh vực đều thiếu sót, riêng ngành Võ thuật lại càng thiếu sót hơn.  Giờ đứng trước sự thiếu sót đó, người có trách nhiệm phải làm sao, phải làm gì?  Hay chỉ đứng thỏng tay chờ, lỏ con mắt ngó, than thở cầu xin?
 
Ca ngợi một huyền thoại anh hùng của Tổ tiên không bằng bắt tay cầm viên gạch xây một bức tường làm căn nhà nhỏ.  Hãy làm căn nhà nhỏ với tất cả nhiệt tâm, hãy hăng say xây dựng một thực tại huy hoàng, dù huy hoàng nhỏ bé.  Hãy chớ nhìn quá xa vời một lời hứa hẹn ban ơn.  Chớ sợ hãi, và mặc cảm nhược tiểu bằng lời đại ngôn Văn Hiến, Tiên Rồng… Thực tế, sung sướng hay đói khổ, mạnh hay yếu, cây có nẩy mầm chăng hay cằn cỗi, tư tưởng ta có phát kiến tân kỳ, có nghiên tập các điều cổ nhân ghi lại… Tất cả những ý ấy làm được là khỏi nói, khỏi gáy, VN vẫn có địa vị lắm rồi, dân mình không bị người ta ăn hiếp trên khắp thế giới.
 
Soạn giả nghĩ rằng nhà nước phải có một tổ chức đứng đắn để chọn những tác phẩm có ích của các tác giả Việt Nam mà giúp đỡ một cách tận tình trong việc in ra cũng như phổ biến, để làm sống các tài năng và lợi ích quốc dân.  Chớ trong tình cảnh tác giả vay tiền Tàu in sách, bị Phát hành bóp chẹt  v..v… thì tác giả cùn mằn tư tưởng, quốc gia ta rồi con cháu cứ gáy vang 4.000 năm… 5.000 năm Văn Hiến, Con Rồng Cháu Tiên… cũng đều y hệt thuở ban đầu:  Thiếu sót.  Thê thảm.
 
Trước tình thế sách vở thiếu sót thê thảm, soạn giả dù có nhiệt tâm đến đâu cũng chẳng thể đơn côi làm được việc gì, nay viết nên lời nầy không khỏi mất nhiều tâm lực, sự an tâm của việc tịnh tu, thật cũng chỉ vọng tâm muốn cho nhà nước đoái hoài tới những tinh hoa của xứ sở, linh hồn của dân tộc – những người cầm bút (viết) – mà có sự dễ dãi trong việc phát triển tư tưởng của họ.
 
Được như thế thì trong tương lai rất gần sẽ giảm bớt sự thiếu sót, nghèo nàn văn hóa, hầu có dịp bình đẳng với thế giới, nhân loại…. Và các bậc kỳ tài, những tâm hồn lớn của dân tộc tránh được sự phí thì giờ đối phó những chi tiết thường thức nhỏ mọn làm giảm tinh thần sáng tác hữu ích cho thế hệ mai sau.
 
Đối với giai cấp võ gia, việc luyện tập, nghiên cứu là cần dù hiện nay có thiếu sót sách vở nhưng so với mấy mươi năm trước vẫn còn hơn, vậy cũng chớ nên phiền muộn.  Mà nên nhớ việc tập luyện mới thật là điều tối cần thiết.
 
Còn chư võ gia, học giả môn sinh của soạn giả chớ vì nghe lời soạn giả đòi đốt trăm cuốn sách tài liệu trân quý đã sưu tầm được… mà buồn phiền hay đâm xao lãng việc rèn luyện cá nhân.  Soạn giả sẽ không đốt các tài liệu ấy đâu, nếu có đốt sẽ giữ mấy bản gởi ra ngoại quốc lưu trữ trong các thư viện vĩ đại thì cũng chẳng mất hết được.  Học giả nào có điều kiện tham cứu thì soạn giả cho biết tên các thư viện đó không lo gì.  Ngày nay văn minh, sự đi lại cũng dễ, có tiền nhiều đi lại càng dễ hơn, nếu không đi được thì thư từ cũng đi lại dễ.  Biết là tất có chìa khóa trong tay rồi.
 
Soạn giả xin chúc chư học giả, môn sinh thành công và nghiên cứu sâu rộng để góp phần xây dựng xứ sở, làm của hồi môn cho con cháu chúng ta sau nầy.

***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#11
CHƯƠNG THỨ II

 
I.   MƯỜI KHẨU QUYẾT GHI TÂM
 
Mỗi môn nội công đều có tâm pháp riêng biệt, tùy sự cao siêu hay tầm thường, đủ thích hợp với sự diệu dụng các động tác hướng dẫn nguồn lực lượng (khí lực) của châu thân để thi triển (làm cho được) các đòn thế hoặc các động tác trong việc huấn luyện thành công.  Nói một cách dễ hiểu hơn là 10 chữ tích chứa các ý nghĩa về sự luyện tập nội công.  Muốn tập nội công cần phải nhớ 10 chữ nầy, không nhớ là không thành công.  Nhưng nhớ không cũng chưa đủ, mà phải hiểu rõ mỗi chữ ý nghĩa ra làm sao, và khi thi hành đúng như khẩu quyết thì mới có kết quả…
 
Trong môn Nội Công Thiết Tuyến (vòng sắt, tập bằng vòng sắt, soạn giả có chỉ cách chế vòng sắt để tập ở Mục Ba, Chương Ba) có 10 khẩu quyết cần được ghi nhớ.  Đây cũng là bài học đầu tiên bằng lý thuyết về khoa nội công nầy.  Mười chữ khẩu quyết lại chia làm hai hành (hai cách làm) là Thức Hành Ý Hành.  Thức thì làm thành hình thức thấy được qua các động tác tay, chân, hơi thở, v…v… còn Ý thì chỉ tưởng tượng mà không biểu diễn được, nhưng sự điều khiển ý lâu dần làm quen thành hợp với Thức mà hóa ra mỗi động tác diễn tập Nội Công Thiết Tuyến đều bao gồm cả Thức lẫn Ý, nhiều Thức nhiều Ý.  Khi đã thuần thục muốn sao thành vậy thì nội công đã thành tựu rồi vậy.  Sau đây là 10 khẩu quyết:
 
-- Năm khẩu quyết thấy được:
 
1. Tiêu;      2. Câu;      3. Định;      4. Cổ;       5. Trầm.
 
Tiêu: là đâm, xỉa, ra với mũi bàn tay hay các đầu ngón tay bằng nhiều cách và nhiều chiều hướng khác nhau.
 
Câu: là các đầu ngón tay chúm lại rồi co cổ tay cho mũi các ngón tay chúm câu vào phía cổ tay, câu đủ hướng trước sau, trên dưới và ngang.
 
Định: là đẩy chưởng tới, xuống có gằn và giữ yên.
 
Cổ: là lấy sức ở ngực điều khiển cánh tay ôm vào hoặc đẩy ra gọi là Cổ Nhập và Cổ Xuất.
 
Trầm: là dồn sức xuống hai cánh tay đưa ra chưởng nén xuống thảng tay, hai hoặc một cánh tay, mũi bàn tay hướng lên.
 
Trên là 5 hình thức thấy được qua cách biểu diễn bằng động tác.  Khi luyện tới bài tập chính thì còn thêm nhiều động tác phụ khác không được coi như khẩu quyết.
 
-- Năm khẩu quyết không thấy được:
 
Đây là cách vận dụng tâm hợp với ý.
 
1. Bách;      2. Nhu;      3. Chế;      4. Cương;      5. Cường.
 
Bách: là (Ý) nhanh, lẹ cấp kỳ (tùy theo động tác có chỉ rõ trong bài).
 
Nhu:  Mềm dịu, chậm đều.
 
Chế:  Biến đổi theo… (để kiềm chế đối thủ).
 
Cương:  Cứng mạnh, gồng cứng.
 
Cường:  Mạnh, dụng lực.
 
Trên là 5 khẩu quyết hay 5 yếu quyết dùng áp dụng thích nghi với từng động tác bài tập sẽ học tới.  Tùy thế mà có sự biến hóa thay đổi khẩu quyết, dụng ý mà điều khiển đôi tay và phát uy toàn bộ nội lực.  Khi đã được như ý mà biến hóa thì gọi là thành công.  Các ý-niệm nầy phải phối hợp với 5 động tác hữu-hình trên và các động tác phụ sẽ học sau để tạo nên những động tác liên tục:  đẩy ra, ôm vào, trầm xuống, định lại, câu lên, đâm tới, v…v… với tốc độ gấp rút, chậm đều, khi gồng khi buông, lúc mạnh lúc yếu, biến đổi cấp kỳ… hơi thở điều hòa khi Hô khi Hấp đúng pháp đúng môn, tập lâu thành tựu nội lực không thể đo lường được.  Khi thành công mỗi diêu động của quyền chưởng lanh lợi khôn ngoan mà lực phát không cần lấy trớn đánh tới như các quyền thế thông thường.  Do đó quyền gia Nội Công đánh người dễ trúng, trúng dễ mà chịu nổi đòn thật không dễ có người.  Ví như thông thường một quyền đánh ngay be sườn đối thủ chưa chắc thọ thượng, nhưng thành gia Nội Công để bàn tay áp nhẹ trên sườn rồi lắc cạnh bàn tay một cái rụp là sườn gãy lìa rồi.  Bởi vậy khi giao đấu với những người già cả, cao niên hoặc những võ gia điềm đạm, tay chân chậm chạp rù rờ như mỏi như mệt, làm biếng cử động thì hãy coi chừng, kẻo hung hăng mà họa vào thân.  Ông bà xưa bảo con cháu học võ bệnh chết là có ý rầy bọn trẻ học lóm mấy miếng võ rồi đâm hung hăng gặp người lớn giáo huấn mà khổ thân, chuyện ấy không phải là vô lý.  Xưa nay không khác coi đó làm gương.  Câu Nghé con không biết sợ Cọp là để chỉ hạng trai tơ đời nay đó.  Liệu hồn.

***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#12
II.       BÀI TẬP THỨ NHẤT:  LUYỆN THÂN THỦ
 
Tưởng không cần hướng dẫn phần nầy, vì đa số học giả môn sinh bây giờ đã biết qua các thế tấn cùng các đòn thuộc bộ tay gọi là Thủ pháp, nhưng để lập lại cũng như giúp người chưa biết võ luyện tập ngay Nội Công trước khi bắt đầu học quyền nên soạn giả trình bày đủ bộ Thân thủ cần thiết cho bài học Nội Công trong sách nầy.  Vì là bài luyện Động Nội Công nên phải có di chuyển, mà di chuyển thì phải biết cách đi cho đúng mới Hô Hấp đúng. Hô Hấp đúng thì khí lực thu phát mới vẹn toàn.  Biết được như thế thì coi như đi gần phân nửa đoạn đường rồi…
 
A/.  Ngũ Bộ Tấn:
 
Để có đủ chân đứng diễn tập hết bài Nội Công Thiết Tuyến, học giả phải thực hành đúng nguyên tắc 5 thế tấn sau:  Lập Bộ, Kỵ Mã, Đinh Bộ, Chảo Mã, Xà Tự Mã Bộ.  Học giả phải đứng đúng nguyên tắc từng bộ một, sau biến đổi theo thứ tự từ trên xuống rồi đảo ngược lại, sau hết là tùy nghi từ thế nào biến qua thế nào cũng được.  Khi động thì nín hơi, khi tịnh bộ thì hô hấp.

 
(Xem 5 hình: 1-2-3-4-5)
 
1. Lập Bộ:  Thân người đứng thẳng, hai tay buông xuôi hai bên hông, đoạn thu tay lên nắm lại thành quyền hai bên hông.
 
2. Kỵ Mã Bộ:  Hai chân nhảy banh sang hai bên cho hai bàn chân cách nhau một khoảng cách bằng 6 tấc Tây, người to con phải 7 tấc, kế rùn gối xuống, lưng vẫn thẳng, hai chỏ vẫn kẹp sát hai bên nách sau.  Mắt nhín thẳng.
 
3. Đinh Bộ:  Bàn chân phải khép mũi bàn chân vô cho ngay giữa bàn chân trái, uốn gối chân phải cho thẳng lên như cây trụ chịu vách tường sắp đổ vậy, hông cũng xoay theo với bàn chân khép, mắt nhìn về hướng trái.
 
4. Chảo Mã Bộ:  Bàn chân phải mở mũi về bên phải trong khi hông xoay theo về bên phải, đồng thời chân phải rút về gần chân trái bằng một vai và chân phải co lên chỉ có mũi bàn chân chạm mặt đất.
 
5. Xà Tự Mã Bộ:  Đặt bàn chân phải xuống và mũi bàn chân xoay qua cho hai bàn chân song song nhau, đoạn chân trái bước qua trước chân phải và đặt bên kia chân phải, hai chân tréo nhau.





***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
[-] The following 1 user Likes anattā's post:
  • vô_danh
Reply
#13
B/.  Thập Bát Thế Thủ Tụ Lực:
 
Thập Bát Thế Thủ Tụ Lực là 18 thế diễn tập căn bản để biết cách phát huy sức lực trong người sẵn có vào các bộ phận theo ý muốn, hầu có ứng dụng lợi ích tối đa khi muốn sử dụng đòn thế áp chế đối phương khi dụng võ.  Thông thường một người luyện thuần thục một vài bài quyền cũng có đôi chút sức lực khi khởi động quyền thế, nhưng nói là có đủ sức hạ thủ trong một đòn thì chuyện đó ít có được, ngay như các võ gia, võ sư ngày nay khi muốn đánh bại đối phương còn phải tháo mồ hôi và tốn nhiều thì giờ… (coi võ đài thì biết).  Đối với các hạng, môn võ khác cũng không khác gì, ngày nay ít ai luyện Nội Công, một sức mạnh tiềm ẩn trong người, nên khi lâm trận tốn nhiều đòn nhiều thế, người xưa không luyện quyền suông như ngày nay.  Cái ngày nay nầy dùng chỉ các nước nhược tiểu vùng Đông Nam Á, Mên, Mọi Thái Lan, Lào, Việt Nam, v…v… chớ người Nhật Bổn đã biết áp dụng phương pháp luyện Nội Công Sơ đẳng trong cách phình bụng cho đối thủ vô đòn ngay từ khi học đòn thế thứ nhất, nên dù Nội Công người Nhật Nhỉ Man không cao thâm cho lắm nhưng Nhu Đạo (tại Nhật) mà lên tới 7-8 đẳng rất là đáng ngại.  Các nước nhỏ nhỏ thiếu uy tín dù có mang đẳng cấp nào, tước hiệu gì cũng chỉ là vẽ bùa cho nhau đeo hưởng chút danh dự địa phương mà thôi.  Đường có đi mới biết.  Đi một ngày đàng học một sàng khôn.  Ra nước ngoài mới thấy người ta luyện tập mà ham, mà tủi cho thân phận mình.  Mọi lãnh vực, nói hoài không hết… sách nầy in ra, ngày mai kia hy vọng có nhiều nhân tài được phát hiện trong lớp thiếu niên Văn Võ song toàn mới mong nở mặt nở mày với các nước tiền tiến.  Soạn giả viết tới đây cảm thấy buồn quá vì nghĩ rằng Ông Bà mình hồi xưa hay quá, số một trong Bách Việt khi còn ở bên Tàu, sau di dân tới Việt Nam cũng còn uy tín võ công hàng ngàn năm:  nào đánh bại nhà Hán, nhà Thanh, nhà Minh, quân Hung Nô Mông Cổ, các nước phên dậu Mên, Mọi Thái Lan, Lào v…v… phải chầu hầu triều cống cây chuối Sứ, con Voi bằng đồng trong Sở thú là chứng tích còn lại.  Thế mà bây giờ cái gì cũng còn lu mờ, cũng thua sút người ta.  Có những người dân mọi Ông Bà họ ngày xưa quì gối tung hô Ông Bà mình mà giờ nầy chúng cũng oai hơn mình, phương tiện hơn mình…
 
Võ Công là phương tiện rèn đúc chí khí của người Nam tử, Trượng phu, kẻ sĩ. Văn Công là phương tiện mở mang trí hóa, tài thao lược trị bình, v…v… nếu người thanh niên không chịu học luyện thì biết bao giờ mới giữ được tiếng thơm danh dự của tổ tiên mình vốn là giống tinh hoa nhất hồi xưa (sách sử bên Tàu cũng ghi chép như vậy).  Tới đây soạn giả xin quí vị Võ sư vui lòng nghĩ ngợi chút ít, xa xăm… để huấn luyện cho em cháu của mình ngoài các miếng võ cường thân, thêm được đôi phần tư tưởng lành mạnh hầu sau nầy chúng có dịp phụng sự nước nhà cho đặng đắc lực, tao nên vẻ vang xứ sở.  Có như thế tiếng thơm của quí vị không nhỏ.
 
Đời mình lớn tuổi rồi, đã hỏng, thì cố gắng đào tạo cho học trò tài giỏi hơn mình thời hậu lai mới có sự ghi ơn rạng rỡ.  Chớ nên tự mãn với vốn hiểu biết sơ sài, địa phương rồi cứ ngồi bó gối cười đời tự mãn trong gian nhà lá vách đất của mình, hoặc ấm ức cứ nhè hạ, dìm lũ trẻ con cháu đương lên.  Người phu xích lô có con cho ăn học thành Luật sư (hồi xưa gọi là Quan Trạng Sư), bà bán chè đậu đen, bán cá, rau hàng bông ngoài chợ nuôi con cho ăn học đậu Bác sĩ, Kỹ sư, Giáo sư, Cử nhân (nhơn), Tiến sĩ, người Nông dân (làm ruộng rẫy) cho con ăn học tới nơi tới chốn làm thầy người ta ngày nay là chuyện ai cũng thấy.  Đó là điều đáng ca ngợi.  Con Sãi sẽ hết quét lá đa.  Nước sẽ tiến…. Các vị Võ gia quân tử biết nâng đỡ phát triển học trò của mình cho được thành tài thì mới là một Ông thầy biết tự trọng, là một ông thầy đáng được ca ngợi, chết mới nhắm mắt.

...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#14
Trở về với bài học…. 18 thế căn bản làm thành một bài diễn tập liên tục, ngừng nghỉ đều theo phép tắc, hít thở cũng có nhịp điệu cho hòa hợp với các động tác hầu có mang lại kết quả mong muốn, tạo dựng một sức mạnh tối đa.  Bài tập theo nguyên tắc Vận động (đòn đang diễn) thì Hô-Hấp, đòn ngưng thì hơi ngưng.  Nói rõ ràng cho đặng dễ hiểu thì hễ đòn phát ra (lưu ra), tức trong ý muốn đánh, đỡ thì Hấp tức là hít hơi từ từ vào theo tay lưu ra tới chỗ tay phải dừng lại thì ngưng hơi, và khi tay thu về bên hông hoặc hậu thân, tức động tác thu tay về để làm động tác khác thì Hô tức thở ra từ từ, khi tay về tới chỗ thì hơi vừa cạn trong phổi.  Kế lại lưu ra, hơi được hít vào… hít vào thì trầm hơi xuống bụng dưới (dưới rún), thở ra thì thóp bụng chút xíu cho uế khí ra nhiều, đồng thời ngực cũng thóp.  Tập lâu thành quen làm rất dễ.  Hễ hai tay cùng vận động ra trước ra sau thì khí để bình (phân nửa) trong bụng, mũi miệng ngậm kín.  Các động tác khác đã chỉ rõ trong bài.  Điều nên nhớ là khi vận động đòn thế tới đâu thì hơi thở phải đúng như sách dạy và sức vận (tưởng tượng) tập trung tại đó.  Nhờ có vòng đồng nặng nên vận sức dễ dàng.  Khi đã vận động đúng nguyên tắc, sức muốn tới đã tới, từ vai, chỏ, cánh tay trong, tay ngoài, cườm tay, cổ tay, khuỷu tay, gang bàn tay, cạnh bàn tay, mũi bàn tay, toàn cánh tay, v…v… thì gọi là kết quả.
 
Nếu nói phương pháp nầy dùng luyện Khí Công cũng đúng, nhưng người đời hay mơ hồ, bậc Sơ căn chưa lãnh hội ý Đạo Võ hay hiểu tầm bậy lời giảng dạy của bậc thầy nên soạn giả khỏi nói dài dòng, luận cứ phân tách, v…v… mà nói là dồn sức Nội Công tới chỗ muốn tập, nhờ vòng đồng làm nặng chỗ đó tùy động tác tay chúc xuống, bật lên, dang ra,… mà sức lực trong người được vận động đối phó thích ứng.  Sư nín hơi tưởng (tập trung tư tưởng) vào động tác là vận khí đó.  Tập quen khi nghĩ tới thì sức đã tới, đánh trúng thì thọ thương liền, cái đó thành quen không còn tưởng tượng lâu lắc gì. Ví như ăn cơm, đũa gắp theo ý muốn, cá, thịt, đậu, khoai, rau, dưa v…v… trăm gắp trăm trúng không miếng nào trật, đũa đưa miệng hả, hàm nhai cổ nuốt, bao tử tiêu hóa nào ai có để ý vận động gì.  Đó là nhờ quen rồi, Nội Công nầy phép tắc cũng như ăn cơm rất dễ hiểu, dễ làm.  Soạn giả nói chỉ có người mất trí thì mới không luyện được Nội Công nầy mà thôi, kỳ dư ai cũng luyện thành, mà luyện thành mau chóng, vì ai cũng biết ăn cơm, gắp đồ ăn thiệt lẹ.
 
Gắp cao lương mỹ vị lẹ làng thì gắp Nội Công cũng phải được như vậy.  Học giả thử gắp coi.  Nếu có sự chậm chạp thì vị tất phải lo vì chưa quen đũa đó thôi; đũa bằng xương, ngà trơn láng nên mới trơn tuột khó gắp, gắp vài lần quen tay.  Ai cũng vậy đừng mắc cở, cái bụng mình mới chính là nguồn hạnh phúc chân chính của mình.
 
Khởi đầu thực hành món Cao lương 18 vị xem sao.  Mời:

***
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#15
Bài tập Nội Công Thiết Tuyến 1

LẬP BỘ

Hai chân đứng thẳng, bàn chân khít nhau, thân thẳng, hai nắm tay thu về hai bên hông.
 
1. SONG ĐỊNH CHƯỞNG - Thức thứ nhất:

(Xem hình 7 và 8)

[Image: NCSD-03.jpg]


Động tác:  Chân trái bỏ sang trái xuống tấn Kỵ Mã, song quyền từ từ xoay vào trong cho úp xuống rồi từ từ đẩy song tới đồng thời mở nắm tay ra thành song chưởng dựng đứng.  Mũi hít từ từ theo chưởng đẩy ra tới khi hai tay thẳng thì phổi đã đầy hơi.
 
 
2. PHÂN THỦY CHƯỞNG:

[Image: NCSD-04.jpg]


Động tác:  Tiếp theo thức thứ nhất….
 
Song chưởng từ từ đưa tréo qua, chưởng trái trong chưởng phải ngoài rồi hít hơi vào đè song chưởng xuống trước hạ bộ, xong gạt ra hai bên, đoạn thở ra bằng miệng.  Xem hình 9.  Tấn bộ xuống thấp, cằm cúi xuống.
 
YẾU LÝ:  Động tác đưa tréo chưởng là thở ra, kế hít vào đè xuống trước hạ bộ, banh hai tay ra cũng còn hơi hít vào, vận khí xuống bụng dưới, tới khi thu tay vào mới thở ra bằng miệng… trước khi bắt đầu động tác thứ ba, hay thức thứ ba.  Ban đầu mới tập, tập một vòng đồng mỗi tay sau tăng dần trọng lượng tới mỗi tay 4 – 5 vòng là đã tới hàng Cao đẳng rồi.  Ở trình độ Thượng đẳng như trong hình, (9 vòng, mỗi vòng 2 ký 2) thì mỗi tay mang một trọng lượng tới 20 ký lô coi như không thể tiến bộ hơn được nữa vì cánh tay đã đầy vòng rồi.  Quan trọng là ở chỗ các vòng linh động gây chấn động trên tay, vòng như quả cân trên cây cân đòn.  Các võ sư giỏi bên Hồng Kông hiện nay chỉ tập mỗi tay 4 vòng.
 
3. TẢ ĐỊNH CHƯỞNG:
 
Động tác:  Song chưởng xoay vào trong cho chưởng tâm (lòng bàn tay) ngửa lên trời rồi thu về hai bên hông đồng thời nắm lại thành quyền và thở ra từ từ bằng miệng như thổi hơi.  Kế chưởng trái từ quyền biến ra đẩy thẳng tới ngang vai, đẩy chậm chậm, miệng ngậm, mũi hít vào từ từ… chân không đổi tấn.  Xem hình 10.
 
4. HỮU ĐỊNH CHƯỞNG:
 
Động tác:  Chưởng trái xoay ra phía ngoài trong khi cánh tay không di động, chỉ vận dụng cổ, tay, đến khi bàn tay ngửa lên thì thở ra trong lúc rút chưởng từ từ về biến thành quyền bên hông; chưởng phải đẩy ra, mũi hít vào… Hình 11.  Khi động tác tới đích dừng lại một thời gian vài giây đồng hố trước khi thu về hoặc diễn tiếp động tác kế.
 
5. BỔNG CHƯỞNG:

[Image: NCSD-05.jpg]


Động tác:  Chưởng phải xoay ra ngoài rồi đưa vòng xuống trước hạ bộ, lật ngửa chưởng tâm lên, trong lúc chưởng trái từ quyền biến thành chưởng từ hông trái đưa ra trước xoay lên cho chưởng tâm hướng lên rồi cả hai chưởng đồng nâng lên, co chỏ, cúi cằm vận lực tụ khí đầy bụng.  Tấn bộ cũng nhón lên từ từ, tưởng tượng như hai tay nâng bao gạo lên vậy.  Xem hình 12.  Hai cánh tay song song nhau và song song với mặt đất.
 
6. ĐƠN CỔ CHƯỞNG (Hữu):
 
Động tác: Chưởng trái nắm lại thành quyền từ từ thu vào bên hông, thở ra, kế hít vào, chưởng phải co nơi chỏ gạt vào trước ngực. Mắt nhìn xuống cổ tay. Hình 13.
 
7. ĐƠN CỔ CHƯỞNG (Tả):
 
Động tác:… Chưởng phải gạt từ từ cho về vị trí thẳng ra rồi thu về bên hông phải nắm lại thành quyền, thở ra.  Kế chưởng trái từ quyền mở ra đưa thẳng tới ôm ngang vào trước ngực vừa hít vào.  Hình 14.
 
...
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
[-] The following 2 users Like anattā's post:
  • SugarBabe, vô_danh
Reply